Lời mở đầu, Kết luận, Luận văn đƣợc bố cục làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về kiểm soát hoạt động Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát hoạt động tại Công ty Cổ phần Kỹ Nghệ Gỗ Tiến Đạt Chƣơng 3: Các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát hoạt động tại Công ty Cổ phần Kỹ Nghệ Gỗ Tiến Đạt Để hiểu rõ đƣợc luận văn, tác giả đã trình bày thêm trong luận văn 08 phụ lục, cụ thể: - Phụ lục 01: Ví dụ minh họa về giá thành định mức tại công ty A; - Phụ lục 02: Ví dụ minh họa về phân tích chênh lệch lợi nhuận, doanh thu giữa thực tế với dự toán tĩnh, dự toán linh hoạt tại công ty A; - Phụ lục 03: Ví dụ minh họa về bảng phân tích chênh lệch biến phí tại công ty A; - Phụ lục 04: Ví dụ minh họa về bảng phân tích chênh lệch định phí tại công ty A; - Phụ lục 05: Ví dụ minh họa về việc tách chi phí hỗn hợp tại công ty Cổ phần Kỹ Nghệ Gỗ Tiến Đạt thành biến phí và định phí. Xây dựng giá thành định mức theo hƣớng phân định biến phí và định phí chơ đơn hàng KEBON 02; - Phụ lục 06: Ví dụ minh họa về việc lập các bảng báo cáo chênh lệch lợi nhuận, doanh thu tại công ty Cổ phần Kỹ Nghệ Gỗ Tiến Đạt cho năm 2011; - Phụ lục 07: Ví dụ minh họa về việc lập các bảng báo cáo chênh lệch biến phí tại công ty Cổ phần Kỹ Nghệ Gỗ Tiến Đạt cho năm 2011; - Phụ lục 08: Ví dụ minh họa về việc lập các bảng báo cáo chênh lệch định phí tại công ty Cổ phần Kỹ Nghệ Gỗ Tiến Đạt cho năm 2011. Trang 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG 1. Kiểm soát và kiểm soát hoạt động Kiểm soát là quá trình tập hợp các phƣơng pháp và công cụ nhằm giám sát các hoạt động và đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức.
Để việc kiểm soát có hiệu quả, các nhà quản trị sẽ tiến hành đo lƣờng và so sánh các thành quả nhằm tính toán ra các chênh lệch. Trên cơ sở đó, nhà quản trị sẽ có hành động ứng xử phù hợp. Trong các tổ chức, thành quả đƣợc đánh giá thông qua việc so sánh giữa kết quả đạt đƣợc với các tiêu chí đã đƣợc xây dựng từ trƣớc nhƣ dự toán, kế hoạch.cho tất cả các cấp quản trị trong tổ chức nhƣ nhà quản trị cấp cao, nhà quản trị cấp trung, nhân viên kinh doanh.Với mỗi cấp hoạt động, thành quả đƣợc đánh giá và kiểm soát khác nhau, cụ thể: Quản đốc phân xƣởng Nhân viên kinh doanh Đánh giá Kiểm soát Đánh giá Kiểm soát Giám đốc nhà máy Giám đốc kinh doanh Đánh giá Kiểm soát Đánh giá Kiểm soát Nhà quản trị cấp cao Nhà quản trị cấp cao Trên cơ sở đó, kiểm soát hoạt động đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Kiểm soát hoạt động là sự đánh giá của nhà quản trị cấp trung đối với những thành quả hoạt động của nhân viên/ngƣời lao động 1. 1 Edward Blocher, Kung Chen, Gary Cokins, Thomas Lin; Cost Management:A Strategic Emphasis, 3rd Edition; McGraw-Hill, 2005, Page 723,724 Trang 2 Nhƣ vậy, thông qua hệ thống kiểm soát hoạt động nhà quản trị cấp cao hơn có thể đánh giá đƣợc năng lực của nhân viên dƣới quyền thông qua việc đánh giá và kiểm soát những thành quả hoạt động của họ.
Các công cụ kiểm soát hoạt động Thông qua việc đánh giá thành quả hoạt động ngắn hạn nhà quản trị sẽ kiểm soát đƣợc hoạt động; cụ thể nhà quản trị sẽ tiến hành đo lƣờng các thành quả tài chính và phi tài chính. Trong đó, thông qua việc đo lƣờng các thành quả tài chính sẽ giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá đƣợc kết quả và hiệu quả hoạt động, từ đó nhà quản trị sẽ định hƣớng đƣợc mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp, đồng thời cung cấp cho nhà quản trị cấp cao hơn cái nhìn toàn diện hơn về thành quả đạt đƣợc của doanh nghiệp. Một trong những công cụ tài chính chủ yếu đƣợc sử dụng rộng rãi để kiểm soát họat động hiện nay là: + Dự toán tĩnh; + Dự toán linh hoạt; + Giá thành định mức. Dự toán tĩnh Dự toán tĩnh là loại dự toán chỉ lập cho một mức hoạt động duy nhất.
Dự toán tĩnh chỉ thích hợp cho việc hoạch định nhƣng không thích hợp trong việc đánh giá việc đánh giá xem chi phí đã đƣợc kiểm soát tốt chƣa. Mức hoạt động thực tế và mức hoạt động dự toán thƣờng không giống nhau. Vì vậy, chi phí sản xuất và chi phí dự toán thƣờng chênh lệch nhau. Chênh lệch này không phản ánh thành quả kiểm soát chi phí do chịu ảnh hƣởng bởi sự khác nhau về mức hoạt động giữa thực tế và dự toán.
Thông tin chênh lệch giữa chi phí sản xuất thực tế và chi phí sản xuất dự toán sẽ thực sự có ý nghĩa trong quản lý khi nhà quản trị điều chỉnh dự toán về mức hoạt động thực tế, đó chính là dự toán linh hoạt. Dự toán linh hoạt Dự toán linh hoạt là dự toán đƣợc xây dựng trên cơ sở một phạm vi hoạt động bao gồm các mức hoạt động: thông thƣờng, suy thoái, thịnh vƣợng. Trong dự toán linh hoạt, các khoản biến phí đơn vị không thay đổi theo các mức hoạt động khác nhau. Thông qua dự toán linh hoạt, nhà quản trị sẽ đánh giá đƣợc hiệu quả hoạt động tại đơn vị trên cơ sở phân tích các chênh lệch tìm ra nguyên nhân.
Giá thành định mức Giá thành định mức là những chi phí đƣợc định trƣớc đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Nó thƣờng đƣợc trình bày nhƣ giá thành đơn vị sản phẩm hoàn thành.2 Khi phân tích chênh lệch giữa giá thành định mức và giá thành thực tế, các nhà quản trị sẽ đánh giá và kiểm soát đƣợc hoạt động tại đơn vị. Nếu giá thành định mức cao hơn thực tế, đó là chênh lệch thuận lợi và ngƣợc lại. Thông thƣờng, các nhà quản trị sẽ tập trung vào phân tích các chênh lệch đáng kể, các chênh lệch không đáng kể sẽ đƣợc bỏ qua Có hai loại định mức : Định mức lý tƣởng và định mức thực tế.
Định mức lý tƣởng là định mức chỉ có thể đạt đƣợc trong những điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh gần nhƣ hoàn hảo. Định mức thực tế là định mức đƣợc xây dựng chặt chẽ, sát với thực tế và có khả năng đạt đƣợc. Định mức này giả định quá trình sản xuất hiệu quả và có thể đạt đƣợc trong điều kiện sản xuất kinh doanh bình thƣờng. @ Phƣơng pháp xác định giá thành định mức cho một đơn vị sản phẩm3 Chi phí Chi phí nhân Chi phí sản Giá thành nguyên, vật công trực xuất chung định mức (1.1) = liệu định mức + tiếp định + định mức cho một cho một sản mức cho một cho một sản phẩm phẩm sản phẩm sản phẩm 2 Tập thể tác giả khoa Kế toán kiểm toán; Kế toán chi phí; NXB Lao động, 2010, Trang 202 3 Tập thể tác giả khoa Kế toán kiểm toán; Kế toán chi phí; NXB Lao động, 2010, Trang 203-205 Trang 4 Trong đó công thức (1.1) đƣợc xác định theo các công thức (1.4) nhƣ sau: Chi phí Lƣợng Đơn giá nguyên, vật nguyên vật nguyên (1.2) liệu định mức = liệu định mức x vật liệu cho một sản cho một sản định mức phẩm phẩm Chi phí nhân Lƣợng lao Đơn giá công trực tiếp động định lao động (1.3) định mức cho = mức cho một x định mức một sản phẩm sản phẩm Chi phí sản Biến phí sản Định phí sản xuất chung xuất chung xuất chung định mức định mức = + định mức cho (1.4) cho một cho một sản một sản sản phẩm phẩm phẩm Ở công thức (1.2): Lượng nguyên, vật liệu định mức cho một sản phẩm là một trong những định mức khó dự đoán nhất.
Lƣợng nguyên vật liệu trực tiếp định mức là một sự ƣớc tính lƣợng nguyên vật liệu cho phép sử dụng để sản xuất một sản phẩm. Lƣợng nguyên vật liệu định mức chịu ảnh hƣởng của đặc điểm công nghệ sản xuất sản phẩm, chất lƣợng nguyên vật liệu, tuổi thọ và năng lực máy móc; chất lƣợng và kinh nghiệm của đội ngũ nhân công. Một số hƣ hỏng hoặc lãng phí có thể là không thể tránh khỏi và đƣợc biết trƣớc khi tính lƣợng định mức. Mặc dù các kỹ sƣ, bộ phận mua và các nhân viên điều khiển máy móc có thể cung cấp thông tin đầu vào để xây dựng các định mức này , các nhà quản lý sản xuất hoặc nhân viên kế toán chi phí thƣờng chính là ngƣời thiết lập và kiểm soát lƣợng nguyên vật liệu trực tiếp định mức.
Đơn giá nguyên vật liệu định mức là một sự ƣớc tính cẩn thận chi phí của một loại nguyên vật liệu nào đó trong kỳ tới. Bộ phận mua có trách nhiệm trong việc xây dựng giá thành định mức cho tất cả các loại nguyên vật liệu. Khi ƣớc tính giá nguyên Trang 5 vật liệu trực tiếp định mức, bộ phận mua phải tính đến tất cả các khả năng tăng giá, thay đổi số lƣợng & các nguồn cung cấp mới. Bộ phận mua cũng tiến hành việc mua thực tế.3): Lượng lao động định mức cho một sản phẩm đƣợc xác định trên cơ sở những nghiên cứu thành quả của máy móc thiết bị và ngƣời lao động hiện tại cũng nhƣ trong quá khứ.
Định mức này cho biết số giờ lao động cho phép đối với từng bộ phận, máy móc thiết bị, hoặc một quá trình để hoàn tất việc sản xuất một sản phẩm hoặc một đợt sản phẩm. Số giờ lao động trực tiếp định mức nên đƣợc xem lại bất cứ khi nào có sự thay đổi máy móc thiết bị hoặc chất lƣợng của đội ngũ lao động. Đáp ứng đƣợc số giờ lao động định mức là trách nhiệm của các nhà quản lý và giám sát bộ phận. Đơn giá lao động định mức đƣợc xác định căn cứ vào đơn giá lao động đƣợc quy định trong hợp đồng lao động hoặc là đƣợc xác định bởi công ty.
Đơn giá lao động định mức là chi phí cho mỗi giờ lao động cho phép tròng kỳ cho từng chức năng hay loại công việc. Măc dù phạm vi đơn giá đƣợc thiết lập cho từng loại lao động và các đơn giá biến động trong phạm vi này, song đơn giá định mức bình quân vẫn đƣợc xây dựng cho từng nhiệm vụ. Ngay cả khi ngƣời lao động thực tế sản xuất ra sản phẩm và đƣợc trả lƣơng ít hơn, đơn giá định mức vẫn đƣợc sử dụng để tính chi phí nhân công trực tiếp định mức.