chương I này , tác giả đã trình bày ý nghĩa cơ bản về đề tài thông qua các mục: Tính cấp thiết của đề tài hiện nay, khái quát tình hình các nghiên cứu trước đó, mục tiêu nghiên cứu - câu hỏi nghi ên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu theo định tính và định lượng, ý nghĩa đóng góp của đề tài và kết cấu đề tài. Đây là cơ sở để tác giả tiếp tục dẫn đến chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ L Ý TH U Y ẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2 .1 Định nghĩa về năng lực cạnh tranh Lý thuyết về năng lực cạnh tranh đã được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng trên thế giới nghiên cứu. Trên thực tế đang tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về NLCT của doanh nghiệp.
NLCT là một chủ đề có tầm quan trọng lớn, không chỉ đối với các nhà hoạch định chính sách của quốc gia, tổ chức mà còn đối với doanh nghiệp. Mặc dù nó có tầm quan trọng trong nhiều khía cạnh, nhưng NLCT vẫn còn thiếu một định nghĩa thống nhất, tất cả cách tiếp cận về kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô đều có định nghĩa NLCT khác nhau: Adam Smith được coi là người có công đầu trong việc đưa ra lý lu ận cạnh tranh một cách có hệ thống. Theo ông, thuộc tính cơ bản của kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh, không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường đích thực. Cạnh tranh được thực hiện thông qua thị trường và giá cả.
Trong tự do cạnh tranh các cá nhân phải ganh đua, thậm chí chèn ép nhau để đạt được mục đích của mình và điều đó buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm việc của mình một cách chính xác. Cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người trong sản xuất ra hàng hóa, tìm kiếm lợi nhuận, từ đó làm tăng của cải cho nền kinh tế quốc dân. C ác M ác không xây dựng lý luận riêng về cạnh tranh trong các nghiên cứu của ông, nhưng ý lu ận về cạnh tranh cũng đư ợc ông đề cập đến nhiều khi nghiên cứu về lý luận giá trị, lý luận về tư bản và giá trị thặng dư. Theo Các Mác, điều kiện dẫn đến sự ra đời và tồn tại của cạnh tranh là phân công lao động xã hội và quyền sở hữu độc lập của chủ thể.
Phân công lao động xã hội theo ngha r ộng tức là sự phân công lao động xã hội trong một đơn vị kinh tế, giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành trong một nền kinh tế quốc dân và giữa các nền kinh tế trong khu vực hay phạm vi thế giới. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể có quyền sở hữu độc lập đều theo đuổi lợi ích kinh tế riêng và chính điều đó tạo nên động lực của cạnh tranh. Cạnh tranh có khả năng điều tiết sự phân phối tư bản và các nguồn lực xã hội giữa các ngành sản xuất khác nhau. Cạnh tranh làm thúc đấy sự phát triển của kỹ thuật sản xuất, làm thay đổi kết cấu tổ chức kinh tế và thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội.
Cạnh tranh diễn ra dưới ba hình thức: M ột là, cạnh tranh giữa các nhà tư bản nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch, ở hình thức này các nhà tư bản cạnh tranh trực tiếp với nhau thông qua hạ giá thành bằng cách đua nhau áp dụng công nghệ tiến bộ, kỹ thuật mới để nâng cao năng suất lao động cá biệt và hạ thấp chi phí cá biệt của từng doanh nghiệp; h ai là, cạnh tranh giữa các nhà tư bản với nhau để hút được một số lượng người tiêu dùng lớn về phía mình, áp lực cạnh tranh buộc họ phải thường xuyên nâng cao chất lượng của hàng hóa thông qua việc nâng cao giá trị sử dụng, cải thiện độ bền, tính năng, tác dụng của sản phẩm hàng hóa; b a là, cạnh tranh giữa các ngành nhằm phân chia nhau giá trị thặng dư, đây là hình th ức có tác dụng nhằm gia tăng tính lưu động của tư bản, làm cho các năng lực tư bản trong xã hội có thể điều tiết một cách linh hoạt vào các ngành sản xuất khác nhau. Như vậy, theo Các Mác cạnh tranh kinh tế là hệ quả tất yếu của nền sản xuất hàng hóa, là sự đối chọi của những người sản xuất hàng hóa dựa trên cơ sở thực lực kinh tế của mình. Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đề cập đến cạnh tranh ở những khía cạnh khác nhau.P orter (1980) cho rằng : NLCT là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Ông cũng cho rằng, nếu một công ty chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm thì không đảm bảo cho sự thành công lâu dài.
Điều quan trọng nhất đối với bất kỳ công ty nào đó là phải xây dựng được một lợi thế cạnh tranh bền vững. Tâm điểm trong lý thuyết cạnh tranh của Porter là việc đề xuất mô hình 5 áp lực. Ông cho rằng trong bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào cũng có 5 yếu tố tác động, (1) Sự cạnh tranh giữa các công ty đang tồn tại; (2) Mối đe dọa về việc một đối thủ mới tham gia vào thị trường; (3) Nguy cơ có các sản phẩm thay thế xuất hiện; (4) Vai trò của các công ty bán lẻ; (5) Nhà cung cấp đầy quyền lực. Theo Aldington Report (1985) cho rằng: doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm, dịch vụ với chất lượng vượt trội, giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước.
Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp, khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp. Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong Sách trắng về NLCT của Vương quốc Anh (1994). Theo Horstmann và Markusen (1992) cho ồng, một nhà sản xuất là cạnh tranh nếu như họ có một mức chi phí đơn vị trung bình bằng hoặc thấp hơn chi phí đơn vị của các nhà cạnh tranh quốc tế. Theo Fafcham ps (1999), NLCT của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao.
Theo tác giả Nguyễn Bách Khoa (2004) cho rằng, NLCT của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng, nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định. Theo tác giả Trần Hữu Ái (2 0 1 3 ) thì: Năng lực cạnh tranh của DN thể hiện thực lực, và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Tóm lại, NLCT của doanh nghiệp có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cần được xem xét. Việc xác định được những yếu tố này là rất quan trọng để thông qua các yếu tố này các doanh nghiệp có thể cải thiện khả năng cạnh tranh của mình.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu của khách hàng vừa là mục tiêu vừa là động lực của các doanh nghệp sản xuất, kinh doanh. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng thì bản thân doanh nghiệp phải tạo ra những sản phẩm dịch vụ theo yêu cầu của họ chứ không phải những thứ mà doanh nghiệp có. Trong điều kiện các doanh nghiệp thủy sản của Việt Nam nói chung và C O IM EX nói riêng có qui mô nhỏ lẻ, trình độ sản xuất còn hạn chế thì việc áp dụng các khái niệm N LCT dựa vào khả năng bên trong của doanh nghiệp là phù hợp, ví dụ như năng suất lao động (Poter, 1980); Khả năng sản xuất sản phẩm, dịch vụ với chất lượng vượt trội, giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước (Aldington Report, 1985); Khả năng thiết kế, sản xuất và tiếp thị sản phẩm tốt hơn nhưng giá thấp hơn so với đối thủ (D'Cruz, 1992).2 Một số quan điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 2.1 N ăn g lực cạn h tranh d ự a vào lợ i t h ế cạn h tranh và ch iến lư ợ c cạn h tranh Theo kết quả nghiên cứu của Flanagan và cộng sự (2007): Thành phần chính trong mô hình lợi thế cạnh tranh và NLCT của Porter là mô hình 5 áp lực cạnh tranh ,ba chiến lược cạnh tranh và chuỗi giá trị. M ô h ìn h 5 áp lự c cạ n h tranh củ a P orter (1990): Mô hình năm áp lực cung cấp các chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận.
Porter (1990) cho rằng, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh, (1) Sức mạnh nhà cung cấp; (2) Nguy cơ thay thế; (3) Các rào cản gia nhập; (4) Sức mạnh khách hàng; (5) Mức độ cạnh tranh.1: Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (Nguồn: Nguyễn Thành L o n g (2016) Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (1990) được thể hiện như sau: (1) Sự cạnh tranh giữa các công ty buộc họ phải lao vào cuộc chiến tranh về giá cả, chi phí quảng cáo và khuyến mãi. (2) Do sự đe dọa về việc xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mới buộc công ty phải liên tục đầu tư vào việc tạo ra các rào cản thị trường thật cao nhằm ngăn chặn các công ty nới này nhập ngành. V í dụ như Nokia liên tục cải tiến mẫu mã và tăng chức năng sản phẩm với tốc độ nhanh đến mức bất kỳ đối thủ tiềm năng nào cũng phải “ngán” khi nhảy vào thị trường điện thoại di động. (3) Các sản phẩm thay thế cũng là một áp lực cạnh tranh không nhỏ.
Nhiều ngành nghề đã từng bị biến mất khi xuất hiện sản phẩm thay thế. (4) Hệ thống phân phối và bán lẻ hùng mạnh sẽ có tác động rất lớn đến việc ấn định giá cả sản phẩm, những nhà sản xuất không thể tùy tiện tăng giá.