Luận văn thạc sĩ các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranhcủa công ty cổ phần thủy sản và xnk côn đảo

Luận văn thạc sĩ phân tích các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranhcủa công ty cổ phần thủy sản và xnk côn đảo, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

148
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Năng lực cạnh tranh của công ty thủy sản Côn Đảo (COIMEX) đang là vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh bao gồm chất lượng sản phẩm, năng lực tổ chức quản lý, nguồn nhân lực, năng lực marketing, cạnh tranh về giá và thương hiệu. Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng này không chỉ giúp COIMEX nâng cao vị thế trên thị trường mà còn mở ra cơ hội phát triển bền vững trong ngành thủy sản.

1.1. Tình hình nghiên cứu trước đó

Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thủy sản đã được thực hiện nhiều, tuy nhiên, chưa có nhiều công trình tập trung vào COIMEX. Các nghiên cứu trước đó chủ yếu tập trung vào yếu tố chung của ngành thủy sản Việt Nam mà chưa đi sâu vào từng công ty cụ thể. Điều này tạo ra khoảng trống cho nghiên cứu hiện tại nhằm làm rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của COIMEX.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có ba nhân tố chính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của COIMEX, bao gồm: (1) Nguồn nhân lực, (2) Năng lực tổ chức quản lý, và (3) Chất lượng sản phẩm. Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định, bởi vì đội ngũ nhân viên có trình độ cao sẽ giúp công ty cải thiện quy trình sản xuất và dịch vụ khách hàng. Năng lực tổ chức quản lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chiến lược kinh doanh hiệu quả. Cuối cùng, chất lượng sản phẩm không chỉ ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng mà còn quyết định khả năng cạnh tranh trên thị trường.

2.1. Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được xem là yếu tố cốt lõi trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhân viên sẽ giúp công ty duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm. Theo nghiên cứu, COIMEX cần đầu tư mạnh mẽ vào chương trình đào tạo nhân viên để cải thiện hiệu suất làm việc và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từ thị trường. Một nhân viên có trình độ chuyên môn tốt sẽ góp phần tạo ra sản phẩm chất lượng cao, từ đó nâng cao thương hiệu của công ty.

2.2. Năng lực tổ chức quản lý

Năng lực tổ chức quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của công ty. COIMEX cần xây dựng một hệ thống quản lý chặt chẽ, linh hoạt để có thể thích ứng nhanh chóng với những thay đổi của thị trường. Việc áp dụng các chiến lược quản lý hiện đại sẽ giúp công ty tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm thiểu chi phí. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một tổ chức quản lý hiệu quả sẽ tạo ra môi trường làm việc tích cực, thúc đẩy sự sáng tạo và cải tiến từ phía nhân viên.

III. Phân tích SWOT

Phân tích SWOT cho thấy COIMEX có nhiều điểm mạnh như chất lượng sản phẩm tốt và thương hiệu đã được công nhận. Tuy nhiên, công ty cũng gặp phải nhiều thách thức từ sự cạnh tranh gay gắt trong ngành thủy sản. Việc nhận diện các nhân tố ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài như chính sách thương mại và xu hướng tiêu dùng là rất quan trọng để xây dựng chiến lược cạnh tranh hiệu quả. Phân tích SWOT sẽ giúp COIMEX nhận diện rõ hơn các cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển.

3.1. Điểm mạnh

Một trong những điểm mạnh của COIMEX là chất lượng sản phẩm. Công ty đã đầu tư vào công nghệ hiện đại và quy trình sản xuất tiên tiến, từ đó tạo ra sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Điều này không chỉ giúp công ty duy trì được thị phần mà còn mở rộng ra thị trường quốc tế. Hơn nữa, thương hiệu của COIMEX đã được khẳng định qua nhiều năm hoạt động, tạo niềm tin cho khách hàng.

3.2. Điểm yếu

Bên cạnh những điểm mạnh, COIMEX cũng phải đối mặt với nhiều điểm yếu như sự thiếu hụt về nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc này ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe. Ngoài ra, việc quản lý chưa hiệu quả cũng là một trong những yếu tố cần được cải thiện để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.

IV. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất năm giải pháp chính để nâng cao năng lực cạnh tranh của COIMEX. Đầu tiên, chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực thông qua các chương trình đào tạo và phát triển kỹ năng. Thứ hai, nâng cao năng lực tổ chức quản lý để thực hiện các chiến lược kinh doanh hiệu quả. Thứ ba, đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường. Thứ tư, nâng cao năng lực marketing nhằm tăng cường thương hiệu. Cuối cùng, gia tăng năng lực công nghệ sản xuất để cải thiện chất lượng sản phẩm.

4.1. Chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, COIMEX cần tập trung vào việc phát triển nguồn nhân lực. Việc tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu sẽ giúp nhân viên nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng làm việc. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn tạo ra một đội ngũ nhân viên nhiệt huyết, sáng tạo, sẵn sàng đối mặt với những thách thức trong ngành thủy sản.

4.2. Nâng cao năng lực tổ chức quản lý

Nâng cao năng lực tổ chức quản lý là một trong những giải pháp quan trọng để cải thiện năng lực cạnh tranh của COIMEX. Công ty cần xây dựng một hệ thống quản lý hiệu quả, từ việc lên kế hoạch sản xuất đến việc theo dõi và đánh giá hiệu quả công việc. Việc áp dụng các công cụ quản lý hiện đại sẽ giúp công ty tối ưu hóa quy trình làm việc và nâng cao hiệu suất lao động.

05/01/2025
Luận văn thạc sĩ các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranhcủa công ty cổ phần thủy sản và xnk côn đảo

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I này , tác giả đã trình bày ý nghĩa cơ bản về đề tài thông qua các mục: Tính cấp thiết của đề tài hiện nay, khái quát tình hình các nghiên cứu trước đó, mục tiêu nghiên cứu - câu hỏi nghi ên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu theo định tính và định lượng, ý nghĩa đóng góp của đề tài và kết cấu đề tài. Đây là cơ sở để tác giả tiếp tục dẫn đến chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ L Ý TH U Y ẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2 .1 Định nghĩa về năng lực cạnh tranh Lý thuyết về năng lực cạnh tranh đã được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng trên thế giới nghiên cứu. Trên thực tế đang tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về NLCT của doanh nghiệp.

NLCT là một chủ đề có tầm quan trọng lớn, không chỉ đối với các nhà hoạch định chính sách của quốc gia, tổ chức mà còn đối với doanh nghiệp. Mặc dù nó có tầm quan trọng trong nhiều khía cạnh, nhưng NLCT vẫn còn thiếu một định nghĩa thống nhất, tất cả cách tiếp cận về kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô đều có định nghĩa NLCT khác nhau: Adam Smith được coi là người có công đầu trong việc đưa ra lý lu ận cạnh tranh một cách có hệ thống. Theo ông, thuộc tính cơ bản của kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh, không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường đích thực. Cạnh tranh được thực hiện thông qua thị trường và giá cả.

Trong tự do cạnh tranh các cá nhân phải ganh đua, thậm chí chèn ép nhau để đạt được mục đích của mình và điều đó buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm việc của mình một cách chính xác. Cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người trong sản xuất ra hàng hóa, tìm kiếm lợi nhuận, từ đó làm tăng của cải cho nền kinh tế quốc dân. C ác M ác không xây dựng lý luận riêng về cạnh tranh trong các nghiên cứu của ông, nhưng ý lu ận về cạnh tranh cũng đư ợc ông đề cập đến nhiều khi nghiên cứu về lý luận giá trị, lý luận về tư bản và giá trị thặng dư. Theo Các Mác, điều kiện dẫn đến sự ra đời và tồn tại của cạnh tranh là phân công lao động xã hội và quyền sở hữu độc lập của chủ thể.

Phân công lao động xã hội theo ngha r ộng tức là sự phân công lao động xã hội trong một đơn vị kinh tế, giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành trong một nền kinh tế quốc dân và giữa các nền kinh tế trong khu vực hay phạm vi thế giới. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể có quyền sở hữu độc lập đều theo đuổi lợi ích kinh tế riêng và chính điều đó tạo nên động lực của cạnh tranh. Cạnh tranh có khả năng điều tiết sự phân phối tư bản và các nguồn lực xã hội giữa các ngành sản xuất khác nhau. Cạnh tranh làm thúc đấy sự phát triển của kỹ thuật sản xuất, làm thay đổi kết cấu tổ chức kinh tế và thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội.

Cạnh tranh diễn ra dưới ba hình thức: M ột là, cạnh tranh giữa các nhà tư bản nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch, ở hình thức này các nhà tư bản cạnh tranh trực tiếp với nhau thông qua hạ giá thành bằng cách đua nhau áp dụng công nghệ tiến bộ, kỹ thuật mới để nâng cao năng suất lao động cá biệt và hạ thấp chi phí cá biệt của từng doanh nghiệp; h ai là, cạnh tranh giữa các nhà tư bản với nhau để hút được một số lượng người tiêu dùng lớn về phía mình, áp lực cạnh tranh buộc họ phải thường xuyên nâng cao chất lượng của hàng hóa thông qua việc nâng cao giá trị sử dụng, cải thiện độ bền, tính năng, tác dụng của sản phẩm hàng hóa; b a là, cạnh tranh giữa các ngành nhằm phân chia nhau giá trị thặng dư, đây là hình th ức có tác dụng nhằm gia tăng tính lưu động của tư bản, làm cho các năng lực tư bản trong xã hội có thể điều tiết một cách linh hoạt vào các ngành sản xuất khác nhau. Như vậy, theo Các Mác cạnh tranh kinh tế là hệ quả tất yếu của nền sản xuất hàng hóa, là sự đối chọi của những người sản xuất hàng hóa dựa trên cơ sở thực lực kinh tế của mình. Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đề cập đến cạnh tranh ở những khía cạnh khác nhau.P orter (1980) cho rằng : NLCT là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Ông cũng cho rằng, nếu một công ty chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm thì không đảm bảo cho sự thành công lâu dài.

Điều quan trọng nhất đối với bất kỳ công ty nào đó là phải xây dựng được một lợi thế cạnh tranh bền vững. Tâm điểm trong lý thuyết cạnh tranh của Porter là việc đề xuất mô hình 5 áp lực. Ông cho rằng trong bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào cũng có 5 yếu tố tác động, (1) Sự cạnh tranh giữa các công ty đang tồn tại; (2) Mối đe dọa về việc một đối thủ mới tham gia vào thị trường; (3) Nguy cơ có các sản phẩm thay thế xuất hiện; (4) Vai trò của các công ty bán lẻ; (5) Nhà cung cấp đầy quyền lực. Theo Aldington Report (1985) cho rằng: doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm, dịch vụ với chất lượng vượt trội, giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước.

Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp, khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp. Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong Sách trắng về NLCT của Vương quốc Anh (1994). Theo Horstmann và Markusen (1992) cho ồng, một nhà sản xuất là cạnh tranh nếu như họ có một mức chi phí đơn vị trung bình bằng hoặc thấp hơn chi phí đơn vị của các nhà cạnh tranh quốc tế. Theo Fafcham ps (1999), NLCT của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao.

Theo tác giả Nguyễn Bách Khoa (2004) cho rằng, NLCT của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng, nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định. Theo tác giả Trần Hữu Ái (2 0 1 3 ) thì: Năng lực cạnh tranh của DN thể hiện thực lực, và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Tóm lại, NLCT của doanh nghiệp có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cần được xem xét. Việc xác định được những yếu tố này là rất quan trọng để thông qua các yếu tố này các doanh nghiệp có thể cải thiện khả năng cạnh tranh của mình.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu của khách hàng vừa là mục tiêu vừa là động lực của các doanh nghệp sản xuất, kinh doanh. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng thì bản thân doanh nghiệp phải tạo ra những sản phẩm dịch vụ theo yêu cầu của họ chứ không phải những thứ mà doanh nghiệp có. Trong điều kiện các doanh nghiệp thủy sản của Việt Nam nói chung và C O IM EX nói riêng có qui mô nhỏ lẻ, trình độ sản xuất còn hạn chế thì việc áp dụng các khái niệm N LCT dựa vào khả năng bên trong của doanh nghiệp là phù hợp, ví dụ như năng suất lao động (Poter, 1980); Khả năng sản xuất sản phẩm, dịch vụ với chất lượng vượt trội, giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước (Aldington Report, 1985); Khả năng thiết kế, sản xuất và tiếp thị sản phẩm tốt hơn nhưng giá thấp hơn so với đối thủ (D'Cruz, 1992).2 Một số quan điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 2.1 N ăn g lực cạn h tranh d ự a vào lợ i t h ế cạn h tranh và ch iến lư ợ c cạn h tranh Theo kết quả nghiên cứu của Flanagan và cộng sự (2007): Thành phần chính trong mô hình lợi thế cạnh tranh và NLCT của Porter là mô hình 5 áp lực cạnh tranh ,ba chiến lược cạnh tranh và chuỗi giá trị. M ô h ìn h 5 áp lự c cạ n h tranh củ a P orter (1990): Mô hình năm áp lực cung cấp các chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận.

Porter (1990) cho rằng, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh, (1) Sức mạnh nhà cung cấp; (2) Nguy cơ thay thế; (3) Các rào cản gia nhập; (4) Sức mạnh khách hàng; (5) Mức độ cạnh tranh.1: Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (Nguồn: Nguyễn Thành L o n g (2016) Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (1990) được thể hiện như sau: (1) Sự cạnh tranh giữa các công ty buộc họ phải lao vào cuộc chiến tranh về giá cả, chi phí quảng cáo và khuyến mãi. (2) Do sự đe dọa về việc xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mới buộc công ty phải liên tục đầu tư vào việc tạo ra các rào cản thị trường thật cao nhằm ngăn chặn các công ty nới này nhập ngành. V í dụ như Nokia liên tục cải tiến mẫu mã và tăng chức năng sản phẩm với tốc độ nhanh đến mức bất kỳ đối thủ tiềm năng nào cũng phải “ngán” khi nhảy vào thị trường điện thoại di động. (3) Các sản phẩm thay thế cũng là một áp lực cạnh tranh không nhỏ.

Nhiều ngành nghề đã từng bị biến mất khi xuất hiện sản phẩm thay thế. (4) Hệ thống phân phối và bán lẻ hùng mạnh sẽ có tác động rất lớn đến việc ấn định giá cả sản phẩm, những nhà sản xuất không thể tùy tiện tăng giá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tựa đề Nghiên cứu các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo của tác giả Trần Thị Hồng Châm, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đinh Phi Hổ, được thực hiện tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu vào năm 2017. Bài viết tập trung phân tích những yếu tố chính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty trong lĩnh vực thủy sản và xuất nhập khẩu, từ đó đưa ra những khuyến nghị hữu ích nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh của công ty trong thị trường.

Độc giả có thể mở rộng kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản trị kinh doanh thông qua các tài liệu như Công tác đãi ngộ nhân sự tại Công ty Cổ phần Kinh Đô: Nghiên cứu luận văn ThS 2015, nơi nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực, hay Nghiên cứu về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công tại UBND huyện Di Linh, giúp hiểu rõ hơn về yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong dịch vụ công, và Luận văn thạc sĩ về cải tiến quản trị nguồn nhân lực tại bảo hiểm xã hội tỉnh Long An, nơi đề cập đến các phương pháp cải tiến trong quản trị nguồn nhân lực, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh.

Những tài liệu này sẽ cung cấp cho độc giả cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh.