Chương 1 cũng giới thiệu thêm về phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được lựa chọn cho phù hợp với đề tài nghiên cứu. Qua đó nêu lên ý nghĩa thực tiễn, một số điểm nổi bật và kết cấu gồm 5 chương của luận văn. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Trên thế giới các nước có quan niệm rất nhau về DNVVN, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là do tiêu chí dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau giữa các nước, các tiêu chí này tùy thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước trong từng giai đoạn, trong từng ngành nghề khác nhau…ví dụ, theo Cộng đồng chung Châu Âu “một DNVVN là một công ty độc lập, có dưới 250 lao động, tổng giá trị tài sản không quá 27 triệu euro”, còn theo Ngân hàng Thế Giới “doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có dưới 50 lao động, tổng giá trị tài sản không quá 3 triệu đô la Mỹ (USD) và tổng doanh thu hàng năm không quá 3 triệu USD”, “doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có không quá 300 lao động, tổng giá trị tài sản không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15 triệu USD” (Phạm Quang Trung, 2005)…tuy nhiên, có hai tiêu chí được nhiều nước công nhận sử dụng để phân loại doanh nghiệp là tiêu chí vốn và lao động.1 : Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước Tiêu chí áp dụng Nước Số lao động Tổng vốn hoặc giá trị tài sản Indonesia <100 <0.6 tỷ rupi Singapore <100 <0.499 triệu USD Thailand <100 <200 Bath Korea <300 trong công nghiệp, dịch vụ <0.6 triệu USD <200 trong thương mại và dịch vụ <0.25 triệu USD Japan <100 trong bán buôn <10 triệu yên <50 trong bán lẻ <100 triệu yên EU < 250 <27 triệu Euro 9 Mexico <250 <7 triệu USD United <500 <20 triệu USD States Nguồn: Giải pháp phát triển DNVVN Việt Nam Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng đưa ra ba tiêu chí để xác định thế nào là DNVVN, ba tiêu chí này có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp: số lao động, mức vốn đầu tư hoặc tài sản, doanh thu sản xuất, kinh doanh hoặc là doanh thu trung bình trong một khoảng thời gian nhất định.
Còn ở Việt Nam, theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định : “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp siêu nhỏ nếu có dưới 10 lao động, doanh nghiệp nhỏ nếu có từ 10 đến 200 lao động, là doanh nghiệp vừa nếu có từ trên 200 đến 300 lao động trong tất cả các ngành nghề trừ thương mại và dịch vụ”.2 : Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Tổng Khu vực Số lao động Số lao động động nguồn vốn nguồn vốn Từ trên 20 I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng tỷ đồng nghiệp và người đến người đến trở xuống trở xuống đến 100 tỷ thủy sản 200 người 300 người đồng II. Công Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến tỷ đồng người đến 10 xây dựng trở xuống trở xuống 200 người đến 100 tỷ 300 người đồng Từ trên 10 III. Thương Từ trên 10 Từ trên 50 10 người 10 tỷ đồng tỷ đồng mại và dịch người đến người đến trở xuống trở xuống đến 50 tỷ vụ 50 người 100 người đồng Nguồn: Chính phủ, 2009 2.
Vai trò của lao động và vốn đối với doanh nghiệp Hàm sản xuất Cobb – Douglas: Q = f (K, L) = A. Lb Trong đó: A: hệ số sản xuất L: lao động (tổng số lao động hoặc tổng số giờ lao động trong năm) K: vốn (giá trị tiền tệ của tất cả máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng) Q: tổng sản lượng Vốn và lao động là hai yếu tố rất quan trọng đối với một doanh nghiệp. Hàm sản xuất Cobb – Douglas được sử dụng rất rộng rãi, nó là một hàm sản xuất đơn giản nhưng mang tính đại diện nhất cho tất cả các hàm sản xuất, nó thể hiện mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra trong một quy trình sản xuất trong đó các yếu tố khác đều được lược giản mà chỉ còn lại hai yếu tố cơ bản nhất mà mọi mô hình sản xuất đều phải dùng nó làm đầu vào đó là vốn và lao động, nó nêu bật được tầm quan trọng của vốn và lao động đối với doanh nghiệp. Cascio và ctg.
(1997) nhận thấy những doanh nghiệp cắt giảm quy mô lao động mà không kết hợp với việc tái cơ cấu, tối ưu hóa nguồn vốn thì kết quả của việc cắt giảm cũng không mấy hiệu quả so với các doanh nghiệp khác. Các tiêu chí đo lường sự thu hẹp quy mô doanh nghiệp Hoy và Dsouza (1992) đã phát hiện ra sự đa dạng trong cách đo lường doanh nghiệp như thị phần, vốn đầu tư, doanh thu, lợi nhuận, số lượng khách hàng hoặc số lượng lao động. Thông thường, quy mô doanh nghiệp được xác định bởi doanh số bán, tổng tài sản (Tổng nguồn vốn), hoặc số lượng người lao động (Timmons, 1994). Sự thay đổi về số lượng lao động được nhiều nghiên cứu sử dụng vì số liệu dễ thu thập và phân loại.
Tuy nhiên, Bucharest (2001) lại cho rằng không thể lấy sự thay đổi về số lượng lao động để làm căn cứ đo lường, Bucharest (2001) cho rằng để đo lường cần phải sử dụng các chỉ tiêu như: doanh thu bán hàng, sản lượng đầu ra, tài sản (nguồn vốn) vì đặc điểm của các DNVVN thường sản xuất theo mùa vụ, sử dụng lao động bán thời gian, lao động gia đình mà không cần phải trả lương, lao động là trẻ em. Vì vậy, có một cách đo lường khác là thông qua đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp như doanh thu, tổng tài sản (Tổng nguồn vốn), lợi nhuận nhưng cách này lại gặp khó khăn về tính xác thực của số liệu vì các số liệu này khá nhạy cảm. Ngoài ra, trình tự và phương pháp hoạch toán ở các doanh nghiệp khác nhau cũng gây khó khăn cho sự đo lường. Tóm lại, tuy có nhiều quan điểm khác nhau về các tiêu chí đánh giá tình hình doanh nghiệp nhưng có thể căn cứ vào hai tiêu chí được nhiều quốc gia, tổ chức thừa nhận đó là số lượng lao động hoặc số lượng vốn (Tổng nguồn vốn hoặc tổng tài sản) của doanh nghiệp đang có tại một thời điểm xác định để đo lường doanh nghiệp có thu hẹp quy mô hay không thu hẹp quy mô.
Lý thuyết về vòng đời của doanh nghiệp Các nghiên cứu đều cho rằng doanh nghiệp trong quá trình phát triển phải trải qua nhiều giai đoạn (Churchill và Lewis, 1983), còn cụ thể bao nhiêu giai đoạn thì tùy theo từng tác giả nghiên cứu, Cooper (1979) cho rằng là 3 giai đoạn, Greiner (1972) cho rằng là 5, Flamholtz (1986) là 7, Adizes (1989) lại cho rằng có đến 10 giai đoạn, thậm chí Kiriri (2000) còn cho rằng có đến 20 giai đoạn…tuy nhiên, 12 nghiên cứu của Greiner (1972) về 5 giai đoạn phát triển của doanh nghiệp được mọi người quan tâm và nhắc đến nhiều: sáng tạo (creativity), định hướng (direction), trao quyền (delegation), phối hợp (coordination), hợp tác (collaboration). Cần xác định doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào để biết vị trí hiện tại của doanh nghiệp đang ở đâu, cũng như nhận biết và giúp chuẩn bị trước những thay đổi không thể tránh khỏi. Ví dụ, doanh nghiệp đã đến giai đoạn suy thoái và cần được thay mới thì việc gia tăng các nhân tố tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp sẽ không hiệu quả hoặc sẽ không đạt được kỳ vọng đặt ra. Một số tác giả còn xem xét một số nhân tố khác dưới đây để xác định doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào của vòng đời: Quy mô doanh nghiệp (Timmoms, 1994): được xác định bởi doanh số bán, tổng tài sản hoặc số lượng người lao động.
Barrie (1974, trích bởi Tạ Minh Thảo, 2006) cho rằng doanh số và lợi nhuận là nhân tố cơ bản để xác định vòng đời vì các số liệu này là thực tế, có thể thu thập được và có ý nghĩa phản ánh tương lai của doanh nghiệp, nhìn vào doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp qua thời gian sẽ nhận biết được doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào. Tuổi doanh nghiệp (số năm hoạt động của doanh nghiệp): hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi về quan điểm của Timmons (1994) khi cho rằng nhìn vào tuổi đời của doanh nghiệp sẽ biết được tương đối doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào trong vòng đời. Tốc độ tăng trưởng: tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp nói chung là khác nhau ở các giai đoạn tăng trưởng khác nhau (Hank và ctg. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: theo Chandler (1962, trích bởi Rajapakshe, 2002) doanh nghiệp phát triển cơ cấu tổ chức để giải quyết khó khăn xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nhìn từ khía cạnh cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, có một số hình thức cơ cấu như tập trung hóa (centralization), chính thức hóa (formalization), phân cấp theo chiều dọc (vertical differentiation) và số lượng các cấp doanh nghiệp (number of levels). Cơ cấu tổ 13 chức doanh nghiệp và các vấn đề liên quan đến quản lý có ảnh hưởng lẫn nhau, điều này làm cho hình thức cơ cấu tổ chức có thể đại diện cho giai đoạn nào đó trong vòng đời của doanh nghiệp (Hanks và ctg. Khó khăn chủ yếu mà doanh nghiệp phải đối phó: theo lý thuyết, các doanh nghiệp ở cùng một giai đoạn thường có xu hướng đối phó với một nhóm khó khăn giống nhau (Churchill và Lewis, 1983).1 : Vòng đời của doanh nghiệp Nguồn: Tạ Minh Thảo và ctg., 2006 Doanh nghiệp là một thực thể sống có vòng đời của riêng nó và các doanh nghiệp có thể trải qua các giai đoạn giống nhau của một vòng đời, mặc dù thời gian của các giai đoạn này có thể dài ngắn khác nhau. Doanh nghiệp sẽ có những nhu cầu, thách thức về vốn và lao động ở mỗi giai đoạn khác nhau trong vòng đời của mình.