Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu có liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận ` 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan Ngoài các lý thuyết cơ bản về cấu trúc vốn đã được phát hiện, nghiên cứu và phát triển như lý thuyết đầu tiên về cấu trúc vốn hiện đại của Modiglani & Miller (M&M) vào năm 1958, tiếp theo là lý thuyết đánh đổi (Trade off Theory), lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Oder Theory)…Các nghiên cứu đều có tính kế thừa và phát huy trên nền tảng trước đó. Trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có nhiều kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn tại nhiều vùng, lãnh thổ, nhiều quốc gia, ngành và doanh nghiệp khác nhau. Để có cơ sở lý thuyết vững chắc cũng như kế thừa các kết quả từ những nghiên cứu trước, tác giả đã tóm lược và trình bày một cách tổng quan về các nghiên cứu thực nghiệm có giá trị cao, nhận diện các nhân tố có thể có mối tương quan kỳ vọng với cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp ngành điện trong phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau: 2.1 Sự tác động của nhân tố quy mô doanh nghiệp đối với cấu trúc vốn Theo lý thuyết đánh đổi, cấu trúc vốn và quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ với nhau và đó là mối quan hệ cùng chiều. Quy mô doanh nghiệp thể hiện mặt lợi thế về nhiều mặt, thứ nhất là sự tín nhiệm đối với các tổ chức tín dụng, các nhà cung cấp đầu vào, có thể đàm phán và thương thảo để giảm chi phí vay nợ cũng như khoản thanh toán cho nhà cung cấp được ưu tiên kéo dài thời gian hơn so với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn.
Thứ hai, quy mô của doanh nghiệp càng lớn sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng cường được khả năng phản ứng hoặc thích nghi với các biến động của nền kinh tế và giảm rủi ro phá sản. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn trái ngược với lý thuyết đánh đổi, quan điểm của lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng quy mô doanh nghiệp và cấu trúc vốn có mối quan hệ ngược chiều, điều này có thể giải thích như sau. Các doanh nghiệp có quy ` 6 mô càng lớn sẽ có dòng tiền dư thừa, nhàn rỗi dồi dào, cùng với tỷ suất sinh lợi vượt trội so với các doanh nghiệp nhỏ. Chính vì vậy, họ sẽ tận dụng nguồn vốn nội bộ vượt trội đó để tự tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thay vì hướng đến việc tiếp cận với các khoản vay bên ngoài.
Điều này tương thích với nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cho rằng quy mô doanh nghiệp có sự tương quan mạnh mẽ với cấu trúc vốn. Các nghiên cứu cố kết quả quy mô doanh nghiệp tương quan thuận chiều với cấu trúc vốn, chẳng hạn: Nghiên cứu của Deesomsak, R. and Paudyal, K and Pescetto, G (2004): Tác giả thực hiện trên dữ liệu mẫu bao gồm các công ty hoạt động ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, bốn quốc gia gồm có Thái Lan (294 công ty), Malaysia (669 công ty), Singapore (345 công ty) và Úc (219 công ty). Các công ty trong mẫu là các công ty phi tài chính đang giao dịch trên sàn chứng khoán trong giai đoạn từ năm 1993 – 2001.
Tác giả đưa vào mô hình các biến giải thích trong đó có thểm ba biến giả quốc gia và sử dụng mô hình hồi quy OLS để tiến hành kiểm tra mối quan hệ giữa các nhân tố với cấu trúc vốn. Đặc biệt nghiên cứu này còn đề cập đến hai thời kỳ trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 và khẳng định rằng các nhân tố có sự ảnh hưởng khác nhau, hay nói cách khác là có sự thay đổi trước và sau cuộc khủng hoảng cụ thể là biến số quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, tấm chắn thuế phi nợ và tính thanh khoản, tác động đến quyết định cấu trúc vốn của các công ty. Ngoài ra, tác giả còn cho rằng có sự khác biệt của các quyết định quản trị tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia cụ thể. Kết quả này cho thấy việc đưa vào mô hình các biến giả quốc gia và các biến cụ thể theo quốc gia là phù hợp và hữu ích, chẳng hạn như mức độ hoạt động của thị trường chứng khoán, lãi suất, quyền chủ nợ và tập trung quyền sở hữu.
Cuối cùng, tác giả kết luận vấn đề quyết định cơ cấu vốn không chỉ là sản phẩm của đặc điểm riêng của công ty mà còn là kết quả của quản trị doanh nghiệp, khung pháp lý và môi trường thể chế của quốc gia mà các công ty đang hoạt động. Nghiên cứu của Murray Z.Goyal (2009): Nghiên cứu này xem xét tầm quan trọng của nhiều nhân tố đối với các quyết định cấu trúc vốn của ` 7 các công ty đại chúng ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 1950 đến 2003. Tuy nhiên có sự khác biệt so với nghiên cứu của Deesomsak, R. and Paudyal, K and Pescetto, G (2004) là bổ sung cách xác định cấu trúc vốn dựa theo giá trị thị trường của tài sản.
Tác giả đã xác định được sáu nhân tố có ảnh hưởng đến cấu trúc như sau: giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, lợi nhuận, đòn bẩy trung bình ngành, Tỷ lệ tài sản cố định hữu hình, quy mô công ty và lạm phát kỳ vọng. Trong đó tác giả nhận định quy mô công ty có tác động cùng chiều với cấu trúc vốn. Ngoài sáu yếu tố này, tác giả cũng cho rằng việc công ty có trả cổ tức hay không trả cổ tức cũng liên quan đến việc sử dụng đòn bẩy. Các công ty trả cổ tức thường ít sử dụng đòn bẩy hơn.
Tuy nhiên các lý thuyết cấu trúc vốn cũng chưa đưa ra mối quan hệ giữa tình trạng trả cổ tức và đòn bẩy công ty và theo quan điểm của tác giả, và đề xuất cần có những nghiên cứu tiếp theo để giải thích rõ hơn điều này. Đồng thời, việc nghiên cứu đòn bẩy dựa theo giá trị sổ sách sẽ làm cho các nhân tố như tác động của thị trường, quy mô doanh nghiệp và yếu tố lạm phát kỳ vọng không phát huy tác dụng so với đòn bẩy dựa trên giá trị thị trường. Đòn bẩy trung bình của ngành, tính hữu hình của tài sản và lợi nhuận vẫn đáng tin cậy và có ý nghĩa thống kê với đòn bẩy dựa trên giá trị sổ sách. Vì vậy, đối với lý thuyết định thời điểm thị trường, tỷ lệ đòn bẩy tối ưu không thể xác định được và không đủ độ tin cậy trong bài nghiên cứu này.
Nghiên cứu của B.Prahalathan (2010) cũng đồng thuận với quan điểm quy mô công ty có tác động cùng chiều với cấu trúc vốn chung, tỷ lệ nợ dài hạn và tỷ lệ nợ ngắn hạn, đồng thời biến quy mô công ty cũng có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu của tác giả Trần Đình Khôi Nguyên (2006): với mục tiêu nghiên cứu “Cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong giai đoạn 1998- 2001” là đề tài mà tác giả Trần Đình Khôi Nguyên thực hiện nghiên cứu vào năm 2006 với mẫu gồm có 558 doanh nghiệp vừa và nhỏ (SEMs), có nợ ngắn hạn không vượt quá 41,98 lần và nợ dài hạn là 1,93 lần, với mục tiêu kiểm định các nhân tố chính giữ vai trò quan trọng trong việc quyết định cấu trúc vốn cho các SEMs tại Việt ` 8 Nam. Tác giả sử dụng các biến phụ thuộc bao gồm: Tổng nợ (TEV), Nợ ngắn hạn (STEV) và Nợ ngắn hạn khác (OSTEV), đặc điểm riêng của nghiên cứu này là tập trung vào nợ ngắn hạn vì tác giả cho rằng các công ty SEMs ở Việt Nam sử dụng chủ yếu là nợ ngắn hạn nên không đưa nợ dài hạn vào mô hình. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng 8 biến độc lập: tăng trưởng (Grow), rủi ro công ty (Risk), quy mô công ty (Size), quan hệ ngân hàng (Business relation bank: Brb), tài sản hữu hình (Tang), lợi nhuận (Prof), vốn chủ sở hữu (Owner Ship: OS), mạng lưới truyền thanh (Network: NW) Kết quả nghiên cứu cho thấy các SEMs đa phần sử dụng nợ phải trả ngắn hạn.
Tuy nhiên nợ ngắn hạn phải trả khác cũng được cho là có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của SEMs. Hoạt động tài chính cũng bị chi phối bởi nguồn vốn chủ sở hữu của các SEMs. Cấu trúc nợ ngắn hạn trung bình chiếm phần lớn trong cấu trúc vốn của họ. Tiếp theo, tác giả cũng đã tìm ra được biến độc lập là quy mô công ty có tương quan cùng chiều với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản.
Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra được vai trò của các ngân hàng cũng có ảnh hưởng đến các SEMs. Nghiên cứu của Lê Thị Kim Thư (2012) với mục tiêu xác định các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành bất động sản niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM từ năm 2007-2011, tác giả thu thập báo cáo tài chính của 13 công ty, sử dụng kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng, lựa chọn mô hình hồi quy bội dựa trên nguyên tắc bình phương nhỏ nhất và sử dụng phần mềm SPSS 16.0, kết quả nghiên cứu đồng thuận với nhận định quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ ngược chiều với cấu trúc vốn.2 Sự tác động của tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp đối với cấu trúc vốn. Quan điểm của lý thuyết chi phí đại diện cho rằng: các doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng trong tương lai, sẽ phát sinh mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ, cổ đông cho rằng nếu đầu tư vào các dự án có hiệu quả cao, lợi ích sẽ thuộc về trái chủ nếu sử dụng đòn bẩy, mặt khác khi sử dụng nợ doanh nghiệp sẽ phải tiêu tốn thêm một phần chi phí đáng kể. Điều này giải thích cho mối quan hệ ngược chiều giữa tốc ` 9 độ tăng trưởng và cấu trúc vốn của doanh nghiệp và có các nghiên cứu sau đồng thuận với ý kiến trên: Nghiên cứu của Deesomsak, R.
and Paudyal, K and Pescetto, G (2004): kết quả nghiên cứu phát hiện nhân tố tốc độ tăng trưởng có sự tương quan tỷ lệ nghịch với cấu trúc vốn.