CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cán cân thương mại (CCTM) là một cán cân bộ phận quan trọng trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế (BOP). Tầm quan trọng của CCTM đối với nền kinh tế rất to lớn.
CCTM chiếm tỷ trọng rất lớn trong cán cân vãng lai (CCVL), nếu CCTM thâm hụt thì khả năng rất lớn kéo theo CCVL cũng sẽ thâm hụt và ảnh hưởng rất lớn đến BOP. Từ khi mở cửa nền kinh tế năm 1986 đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế nổi bật nhưng cũng nổi lên không ít vấn đề, trong đó, có diễn diến biến chưa ổn định của CCTM. Bên cạnh đó năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập WTO tham gia chuỗi thương mại tự do toàn cầu. Mặc dù Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (World Trade Organization – WTO) nhưng thâm hụt thương mại ngày càng xu hướng tăng cao, đặc biệt trong giai đoạn 2006-2010, thâm hụt thương mại của Việt Nam cao gấp 4 lần giai đoạn 2000-2005.
Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thì thâm hụt thương mại cao là điều tất yếu phải trải qua, tuy nhiên khi càng phát triển thì thâm hụt thương mại càng phải giảm do khả năng sản xuất của quốc gia tăng cao (Đỗ Hạnh Nguyên 2014). Điều đáng nói hơn là CCTM vừa mới thặng dư trong 03 năm liền từ 2012 đến 2014 thì năm 2015 lại tiếp tục thâm hụt. Điều đó cho thấy rằng CCTM chưa được cải thiện một cách bền vững. Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại và nghiên cứu thực nghiệm cho từng quốc gia.
Tuy nhiên cũng tùy thuộc vào mỗi quốc gia mà sẽ có các nhân tố ảnh hưởng cùng chiều hay ngược chiều lên cán cân thương mại của nước đó. Cụ thể, nghiên cứu của Orr (1991) về các nhân tố ảnh hưởng đến CCTM Hoa Kỳ hay Wilamoski và Tinklers (1999) nghiên cứu về CCTM giữa Mỹ và Mexico đã chỉ ra rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác động làm cải thiện CCTM. Nhưng ngược lại, Hossein Varamini và Svetlana Kalash (2010) khi nghiên cứu về các nước có nền kinh tế tăng trưởng cao của EU lại cho thấy FDI có tác động ngược chiều đối với CCTM. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CCTM Việt Nam thì có khá nhiều công trình nghiên cứu.
Chẳng hạn, Trần Thị Minh Uyên (2012) đã sử dụng sáu biến gồm: giá dầu mỏ, FDI, chi tiêu chính phủ, giá cả nội địa, tăng trưởng sản xuất và tăng trưởng nông nghiệp. Kết quả hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) đã chỉ ra rằng chỉ có biến giá cả nội địa là có tác động ngược chiều đến CCTM Việt Nam, những biến còn lại không có sự tác động nào đến CCTM Việt Nam. Ngoài ra còn có nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CCTM Việt Nam như Phạm Thị Tuyết Trinh (2014), Khiếu Văn Hoàng (2014). Tuy nhiên hầu hết các công trình chủ yếu tập trung vào nhân tố tỷ giá mà hầu như bỏ qua các nhân tố khác.
Vì lý do đó tác giả quyết định chọn đề tài là Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại Việt Nam. Mục tiêu của đề tài Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến CCTM Việt Nam và tầm quan trọng của các nhân tố đối với diễn biến CCTM Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn có câu hỏi nghiên cứu là: Những nhân tố nào quyết định chủ yếu diễn biến của CCTM Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là CCTM Việt Nam và các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến CCTM Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2015.
Nghiên cứu lựa chọn giai đoạn 2000 - 2015 là vì đây là giai đoạn Việt Nam đẩy mạnh quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới qua các hiệp định thương mại song phương và đa phương được ký kết. Ngoài ra, việc thu thập số liệu GDP Việt Nam từ Reuters chỉ có từ năm 2000. Phương pháp nghiên cứu Dựa trên mô hình nghiên cứu của Ray (2012), nghiên cứu xây dựng mô hình xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CCTM Việt Nam gồm biến phụ thuộc là CCTM LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Việt Nam và các biến độc lập gồm tăng trưởng kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài và tỷ giá thực đa phương. Để ước lượng mô hình, nghiên cứu sử dụng phương pháp đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số véc tơ (VECM) theo Johansen (1990).
Dữ liệu dùng cho nghiên cứu được lấy từ các nguồn gồm thống kê tài chính quốc tế (IFS), tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và Reuters. Đóng góp của đề tài Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về những nhân tố chính ảnh hưởng đến CCTM Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2015. Bố cục nghiên cứu Luận văn được chia thành 05 chương, trong đó chương 01 giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu, chương 02 trình bày những lý luận cơ bản về CCTM và các nhân tố ảnh hưởng đến CCTM, chương 03 trình bày về phương pháp nghiên cứu, sau đó chương 04 sẽ phân tích kết quả ước lượng và chương 05 tác giả sẽ kết luận và kiến nghị các biện pháp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2.
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 2. Cán cân thương mại CCTM là một cán cân bộ phận trong tài khoản vãng lai của BOP. CCTM ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm). Tình trạng của CCTM được tính là chênh lệch của xuất khẩu và nhập khẩu.
Khi xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu thì CCTM có thặng dư hay nền kinh tế xuất siêu. Ngược lại, khi xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu thì CCTM thâm hụt hay nền kinh tế nhập siêu. Khi xuất khẩu bằng nhập khẩu, CCTM ở trạng thái cân bằng. Thông thường, tình trạng của CCTM sẽ quyết định tình trạng của CCVL.
Khi CCTM thâm hụt làm cho CCVL cũng sẽ thâm hụt và có thể làm cho BOP thâm hụt nếu cán cân vốn và tài chính không đủ bù đắp. Trong trường hợp ngân hàng trung ương (NHTW) áp dụng chế độ tỷ giá cố định thì việc thâm hụt BOP cho thấy cầu ngoại tệ lớn hơn cung ngoại tệ trong nền kinh tế và gây áp lực cho tỷ giá tăng, khi đó NHTW buộc phải giảm giá đồng nội tệ hoặc can thiệp thị trường bằng cách bán ra ngoại tệ làm giảm dự trữ ngoại hối. Ngược lại, khi CCTM thặng dư sẽ làm cho CCVL thặng dư và từ đó làm cho BOP thặng dư. Lúc này, nền kinh tế dư cung ngoại tệ và gây áp lực cho tỷ giá giảm.
Khi đó, NHTW buộc phải nâng giá đồng nội tê hoặc là thu mua ngoại tệ để ổn định tỷ giá. Tuy nhiên, nếu NHTW áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi cho nền kinh tế thì khi BOP thặng dư sẽ làm cho đồng nội tệ tăng giá trị và tỷ giá giảm. Ngược lại nếu BOP thâm hụt thì sẽ làm cho đồng nội tệ mất giá và tỷ giá sẽ tăng. Khi đó sẽ việc thâm hụt hoặc thặng dư BOP sẽ tác động đến nhiều yếu tố vĩ mô khác như thị trường hối đoái chao đảo, dễ gây ra lạm phát,… Ngoài ra, tình trạng CCTM cũng đóng vai trò quan trọng đối với vấn đề nợ quốc gia.
Khi CCTM thặng dư thì quốc gia ở vị thế con nợ sẽ có nguồn ngoại tệ để trả nợ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Ngược lại khi CCTM thâm hụt thì quốc gia đó sẽ không có nguồn thu ngoại tệ để trả nợ mà phải đi vay để trả nợ. Khi đó nền kinh tế dễ rơi vào khủng hoảng nợ công. Đối với những quốc gia có vị thế là chủ nợ thì khi CCTM thặng dư, nền kinh tế sẽ có nguồn ngoại tệ dồi dào để ổn định nền kinh tế quốc gia và còn có thể cho các nước khác vay (Nguyễn Thị Hiền 2010).
Mặt khác, CCTM cũng là một nhân tố ảnh hưởng rất quan trọng đến tăng trưởng của một nền kinh tế. CCTM hay giá trị hàng xuất khẩu (X) trừ đi giá trị hàng nhập khẩu (M) cùng với tiêu dùng (C), đầu tư (I) và chi tiêu chính phủ (G) là những bộ phận cấu thành trong sản lượng của nền kinh tế mở (Y): Y = C + I + G + (X – M) (2.1) Do đó, CCTM thặng dư hay thâm hụt đều có tác động trực tiếp đến tổng sản lượng. Khi CCTM thâm hụt (tức xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu), đặc biệt là thâm hụt kéo dài thì sẽ làm cho sản lượng Y của nền kinh tế giảm. Ngược lại, khi CCTM thặng dư hay xuất khẩu ròng tăng sẽ làm cho sản lượng của nền kinh tế tăng.
Ngoài ra, CCTM còn tác động đến cả số nhân nền kinh tế thông qua việc nhập khẩu. Số nhân tổng cầu được tính theo công thức sau: 1 k= (2.2) 1 − Cm (1 − Tm ) − Im + Mm Trong đó, k là số nhân nền kinh tế, Cm là xu hướng tiêu dùng biên, Tm là thuế khả dụng, Im là xu hướng đầu tư biên và Mm là xu hướng nhập khẩu biên. Do đó, khi Mm tăng sẽ làm cho số nhân nền kinh tế giảm và kéo theo tổng sản lượng nền kinh tế giảm. Và ngược lại, khi Mm giảm sẽ làm cho số nhân nền kinh tế tăng lên và khi đó tổng sản lượng nền kinh tế sẽ tăng lên.
Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Tỷ giá hối đoái là một nhân tố hết sức quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với CCTM nói riêng. Tùy theo cách phân loại mà có nhiều loại tỷ giá hối đoái khác nhau. Khi phân tích tỷ giá ảnh hưởng đến CCTM, loại tỷ giá thường được sử dụng gồm tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá thực. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương (NER) là giá cả của một đồng tiền được biểu hiện bằng một đồng tiền khác mà chưa tính đến tương quan sức mua hàng hóa, dịch vụ giữa hai quốc gia của hai đồng tiền đó.
Trong nghiên cứu này tỷ giá được niêm yết theo phương pháp trực tiếp.