Chương 1 : TONG QUAN NGHIÊN CUU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VIỆC CONG BO THONG TIN KE TOÁN MOI TRUONG CUA CAC DOANH NGHIEP NIEM YET 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu trong nước Phát triển bền vững luôn là van đề nóng nhận được sự quan tâm của toàn nhân loại trong những năm trở lại đây. Bên cạnh các nghiên cứu về phương pháp bảo vệ môi trường, các nghiên cứu liên quan đến việc công bố thông tin kế toán môi trường tại Việt Nam cũng đã nhận được nhiều sự quan tâm của các Ban ngành và các nhà nghiên cứu không chỉ trong nước.
Trương Bá Thanh ( 2013) thực hiện nghiên cứu các nhân tô ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết dựa trên bộ số liệu được thu thập từ 80 doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất, thương mại và dịch vụ trên sàn chứng khoán Hà Nội. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mô hình hồi quy tuyến tính và thu được kết quả có tất ca hai nhân tô ảnh hưởng đến biến phụ thuộc bao gồm : Khả năng sinh lời và tỷ trọng tài sản số định. Đặng Ngọc Hùng (2016) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên bộ chỉ số của 134 công ty. Kết quả thu được cho thấy, có tất cả 5 nhân tố ảnh hưởng đến biến phụ thuộc mức độ công bố thông tin kế toán bao gồm : Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc; Kiểm toán độc lập; Quy mô thành viên Hội đồng quản trị; Quy mô doanh nghiệp và Tỷ lệ sinh lời.
Với mẫu đữ liệu thu thập từ 57 công ty khai khoáng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2013 đến 2017, bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, Nguyễn La Soa (2019) đã thực hiện nghiên cứu nhằm 14 khám phá ra các nhân tô ảnh hưởng đến việc công bồ thông tin kế toán môi trường và thu được kết quả các nhân tố : Don bẩy tài chính, khả năng sinh lời, quy mô doanh nghiệp, số năm niêm yết và kiểm toán độc lập đều có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc. Đồng thời, dựa trên kết quả đó, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán môi trường cho các công ty khai khoáng Việt Nam, giúp tăng khả năng cạnh tranh cho công ty trong điều kiện hội nhập toàn câu. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng trên bộ dit liệu báo cáo thường niên của 122 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn từ năm 2015 — 2017, Nguyễn Thị Loan và Tô Thi Như Nhàn (2020) đã thực hiện nghiên cứu “ Các nhân tô ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của doanh nghiệp niêm yết HOSE”. Kết quả thu được cho thấy có 4 nhân tổ ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện là quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, thời gian niêm yết và quyền sở hữu tổ chức.
Đồng thời đưa ra một số khuyến nghị để nâng cao mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE. Lâm Thị Trúc Linh (2019) nghiên cứu các nhân tổ tác động đến việc công bố thông tin kế toán môi trường tại các doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản Việt Nam. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng việc sử dụng mô hình nhân tố khám phá EFA dựa trên bộ số liệu thu thập từ bộ dữ liệu liệu của các công ty nuôi trồng thủy sản Việt Nam được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Kết quả thu được cho thấy, có tất cả 6 biến trong 12 biến được đưa vào mô hình có ảnh hưởng đáng kề đến biến phụ thuộc là mức độ công bố thông tin kế toán môi trường của các công ty nuôi trồng thủy sản bao gồm các nhân tổ thuộc về áp lực từ chính phủ, nhà nhập khẩu, nhà dau tư; lợi lich khi thực hiện kê toán môi trường; có các hướng dân thực hiện; trình độ am hiệu về kê 15 toán môi trường của kê toán; có sự giám sát của cơ quan với các biện pháp bảo vệ môi trường tại doanh nghiệp; tháo độ của nhà quản lý vê bảo vệ môi trường.
Việc hạn chế tình trạng bất đối xứng về thông tin là một van đề hết sức cần thiết dé nhà đầu tư và khách hàng tin tưởng vào hoạt động động của doanh nghiệp. Năm 2021, Nguyễn Ngọc Thủy đã thực hiện nghiên cứu “ Các nhân tổ ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cdo thường niên của ngân hàng thương mại Việt Nam” trong giai đoạn từ 2015 đến năm 2019. Dựa trên phương pháp tính điểm bình quân không trọng số, mức độ công bố thông tin của các ngân hàng dat tỷ lệ lớn hơn 61% danh mục các thông tin công bố trên báo cáo thường niên. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS để kiểm định các giả thuyết và đi đến kết quả : Mức độ công bố bố thông tin bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ thanh khoản và tỷ lệ nợ của ngân hàng thương mại Việt Nam.
Phan Thị Trà Mỹ và Nguyễn Huỳnh Nhân (2021) nghiên cứu “ Các nhân tô ảnh hưởng đến việc công bó thông tin báo cáo bộ phận tại các công ty niêm yét” trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2017 — 2019. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 6 nhân tố tác động tích cực đến mức việc công bồ thông tin báo cáo bộ phận bao gồm : Số năm hoạt động, Tỷ suất sinh lời; Trình độ chuyên môn về tài chính — kế toán của hội đồng quản tri; Quy mô doanh nghiệp; Thời gian niêm yết; Chất lượng công ty kiểm toán. Dựa trên phương pháp tính điểm bình quân không trọng số, mức độ công bồ thông tin của các ngân hang đạt tỷ lệ hơn 61% danh mục các thông tin công bố trên báo cáo thường niên kết hợp việc sử dụng mô hình hồi quy OLS, Nguyễn Ngọc Thủy (2021) nghiên cứu “ Các nhân tổ ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên bdo cáo thường niên của ngân hàng thương mại Việt Nam”. Kết quả cho thấy rang, mức độ công bồ thông tin trên báo cáo thường niên bị anh hưởng bởi tỷ lệ thanh khoản và tỷ lệ nợ của ngân hàng thương mại Việt Nam.
16 Bùi Minh Phuong (2021) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin phát triển bền vững tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2017 — 2019. Kết quả nghiên cứu khang định rang lý thuyết đại diện, lý thuyết chi phí sở hữu, lý thuyết tín hiệu và lý thuyết các bên liên quan là phù hợp và có 4 yếu tố tác động tích cực đến việc công bố thông tin bền vững của các công ty hóa chất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm : Quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, khả năng sinh lời và tỷ lệ sở hữu nhà nước. Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao ý thức về tam quan trong của việc công bô thông tin phát triên bên vững. Bằng việc sử dụng nhân tố khám phá EFA, Lê Nữ Như Ngọc (2023) thực hiện nghiên cứu “ Các nhân tố anh hưởng đến công bố báo cáo trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp tỉnh Bình Định ” dựa trên mẫu đữ liệu của 155 doanh nghiệp tỉnh Bình Định đã đưa ra kết luận có 4 nhân tố tác động trực tiếp cùng chiều với mức độ công bố báo cáo trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp tỉnh Bình Định bao gồm : (1) Nhận thức của người tiêu dung; (2) Áp lực pháp lý; (3) Quy mô doanh nghiệp; (4) Hiệu quả tài chính.
Một số nghiên cứu nước ngoài Theo bài nghiên cứu của Bewley, K. (2000) thì các nhân tố có thé ảnh hưởng đến việc công bồ thông tin về kế toán môi trường có thể ké đến như tac động của truyền thông, mức độ hiểu biết của công chúng về mức độ tiếp xúc với môi trường của doanh nghiệp, xu hướng ô nhiễm của doanh nghiệp và quy mô doanh nghiệp. Bên cạnh đó thì chất lượng kiểm toán cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin, chúng có mối quan hệ thuận chiêu nhau. 17 Husainey (201 1) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bồ thông tin phát triển bền vững ở Ai Cập bằng cách thu thập va phân tích dữ liệu của 111 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Ai Cập từ năm 2005 đến năm 2010 dựa trên mô hình gồm các biến độc lập : Quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lợi, tỷ lệ thanh khoản, cơ cầu vốn, loại hình sở hữu và chất lượng kiểm toán.
Kết quả cho thấy, khả năng sinh lời của công ty là một nhân tổ quan trọng có anh hưởng tích cực đến việc công bố thông tin của phát trién bền vững. Tuy nhiên, chất lượng kiểm toán cũng có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin. Tuy nhiên, ảnh hưởng này tương đối yếu. Ngoài ra, tác giả không nhận ra có bất kỳ môi quan hệ nào giữa quy mô công ty, ty lệ thanh khoản, cơ cau vốn và loại hình sở hữu đến mức độ công bé thông tin phát trién bền vững.
Ho và Yekini (2014) đã tiến hành khảo sát 20 doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 3 năm và đưa ra kết luận : Đòn bẩy tài chính, tỷ lệ nợ ảnh hưởng đến việc công bố thông tin kinh tế, môi trường và xã hội trong báo cáo thường niên của doanh nghiệp. Barakat và cộng sự (2015) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá mức độ công bố thông tin trách nhiệm môi trường của các công ty ở Palestine và Jordan dựa trên mẫu dữ liệu được thu thập từ 101 doanh nghiệp được cập nhật đến năm 2011 và thu được kết qua : Hệ thống luật pháp, đặc điểm hoạt động của công ty, đặc điểm của công ty kiểm toán, tính độc lập và đặc điểm quản trị công ty có mối quan hệ cùng chiều với mức độ công bồ thông tin trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp., & Wahyuningrum (2020) sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính bội để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bồ thông tin về môi trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tokyo. Kết quả thu 18 được cho thay, mức độ công bố thông tin bị tác động bởi quy mô doanh nghiệp và thời gian hoạt động.