Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các loại người đồng phạm Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 về các loại người đồng phạm và trách nhiệm hình sự của họ Chương 3: Thực tiễn xét xử các vụ án đồng phạm trên địa bàn thành phố Hải Phòng và một số kiến nghị, đề xuất 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC LOẠI NGƢỜI ĐỒNG PHẠM 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm đồng phạm Nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự của nước ta trong những năm đầu của chính quyền nhân dân, vấn đề đồng phạm chưa được quy định một cách đầy đủ, cụ thể, đồng phạm mới chỉ được phân biệt thành chính phạm và tòng phạm, đồng nhất TNHS của những người tham gia trong bất kỳ trường hợp nào.
Từ những năm 60 đến trước năm 1985, cùng với sự phát triển của khoa học luật Hình sự, vấn đề đồng phạm đã được quan tâm, đề cập nhiều hơn trong các sách báo pháp lý, các công trình nghiên cứu. Tại Hội nghị tổng kết xét xử năm 1963, Tòa án nhân dân tối cao có định nghĩa về đồng phạm (cộng phạm) như sau: “Coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí, cùng chung hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức hoặc trực tiếp cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội để cùng đạt tới kết quả phạm tội”. Định nghĩa này về cơ bản đã xây dựng được khái niệm đồng phạm, trong đó xác định được những dấu hiệu điển hình của đồng phạm. Tuy nhiên, nó chưa mang tính khái quát và chưa phản ánh được những dấu hiệu đặc trưng của đồng phạm.
Mặc dù thực tiễn xét xử từ những năm 1946 đã đề cập đến vấn đề đồng phạm trong các văn bản pháp luật hình sự nhưng vấn đề đồng phạm vẫn chưa được quy định thành một chế định cụ thể. Đồng phạm là một khái niệm cơ bản trong khoa học luật hình sự, Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước ta năm 1985, được Quốc hội thông qua vào ngày 27/6/1985 lần đầu tiên ghi nhận khái niệm đồng phạm, tại Điều 17:“Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”. Quy định này đã đánh dấu một bước phát triển tích cực trong hoạt động lập pháp hình sự ở nước ta. Thuật ngữ đồng phạm thay thế cho thuật ngữ cộng phạm được sử dụng trong 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các văn bản pháp luật hình sự trước đây, mặc dù bản chất pháp lý không thay đổi, nhưng chính xác hơn.
Tuy nhiên, khái niệm đồng phạm được quy định trong Bộ luật hình sự 1985 vẫn tồn tại nhược điểm về mặt kỹ thuật lập pháp hình sự, đó là thuật ngữ “hai người” được hiểu thuộc phạm trù “nhiều người”, nói cách khác có sự lặp lại không cần thiết. Do đó, Bộ luật Hình sự 1999, được Quốc hội thông qua vào ngày 21/12/1999 đã đưa ra định nghĩa pháp lý về khái niệm đồng phạm tại Khoản 1 Điều 20 như sau: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Trong luật hình sự Việt Nam, khái niệm đồng phạm là khái niệm cơ bản để từ đó xác định các quy phạm khác của chế định đồng phạm về các loại người đồng phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm trong đồng phạm, các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự trong đồng phạm. Việc nhận thức đúng đắn khái niệm đồng phạm và xác định chính xác đồng phạm trong thực tiễn xét xử là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực hình sự.
Nguyên tắc này nhằm mục đích xử lý đúng người, đúng tội, không kết tội oan và không để lọt tội phạm. Từ khái niệm đồng phạm nêu trên, ta có thể đưa ra những căn cứ để xác định một vụ đồng phạm bao gồm: Thứ nhất, về mặt khách quan: số lượng người tham gia trong vụ án phải có từ hai người trở lên, những người này đều phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS và họ phải cùng nhau thực hiện một tội phạm. Hành vi của người đồng phạm này liên kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia. Hành vi của những người đồng phạm phải hướng về một tội phạm, phải tạo điều kiện, hỗ trợ cho nhau để thực hiện một tội phạm thuận lợi, nói cách khác hành vi của đồng phạm này là tiền đề cho hành vi của đồng phạm kia.
Hành vi của tất cả những người trong vụ án đồng phạm đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại chung của tội phạm, mặc dù có người trực 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp, người gián tiếp gây ra hậu quả tác hại. Đây là đặc điểm về quan hệ nhân quả trong vụ án đồng phạm. Thứ hai, về mặt chủ quan: tất cả những người trong vụ án đồng phạm phải có hình thức lỗi cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Họ đều thấy rõ hành vi của toàn bộ những người trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội , mong muốn thực hiện tội phạm hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Mỗi người đồng phạm đều thấy trước hành vi của mình, thấy trước hành vi của tất cả những người đồng phạm là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại. Đối với những tội phạm mà động cơ và mục đích nêu trong điều luật là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì chỉ những người phạm tội có động cơ và mục đích giống nhau thì mới có thể là đồng phạm của nhau. Trên thực tế, trường hợp đồng phạm thường gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng hơn trường hợp chỉ có một người phạm tội. Do số người, thời gian thực hiện tội phạm nhiều hơn và giữa họ có điều kiện giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất, dẫn đến hoạt động phạm tội kiên quyết và táo bạo hơn.
Trong vụ đồng phạm, các đối tượng phạm tội dễ che giấu vết tích của tội phạm, trốn tránh sự truy tìm của các cơ quan điều tra. Những tội phạm nguy hiểm nhất thường được thực hiện dưới hình thức đồng phạm như: các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm sở hữu…Đồng phạm có tính nguy hiểm cao hơn cho xã hội nên được quy định rất kỹ trong phần chung BLHS 1999 (Điều 20, Điều 48 khoản 1 điểm a) và trong phần các tội phạm, ví dụ: Điều 79 tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, Điều 82 tội bạo loạn… 1. Khái niệm các loại người đồng phạm Nghiên cứu lịch sử khoa học luật hình sự nước ta, có thể thấy khái niệm người đồng phạm chưa được các nhà làm luật quan tâm, ghi nhận về mặt pháp lý, mà chỉ đề cập đến từng loại người đồng phạm cụ thể. Như vậy, để có một 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khái niệm chính xác về người đồng phạm chúng ta phải đi từ khái niệm đồng phạm là khái niệm cơ bản, từ khái niệm đó, có thể hiểu người đồng phạm là người cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm cùng với người khác, người đồng phạm phải là người thỏa mãn các điều kiện cơ bản của tội phạm, đồng thời phải cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội với người khác.
Theo quy định pháp luật hình sự và các văn bản pháp luật chính thống hiện nay, các loại người đồng phạm được phân biệt thành bốn loại người, bao gồm: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức. Cơ sở để phân biệt các loại người đồng phạm là dựa trên vai trò, tính chất, sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm. Trong một vụ đồng phạm, mỗi loại người đồng phạm khác nhau sẽ tham gia với một vai trò khác nhau, hành vi, tính chất phạm tội cũng khác nhau, nhưng động cơ, mục đích phạm tội là giống nhau. Việc phân biệt các loại người đồng phạm có một ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Phân biệt các loại người đồng phạm giúp các cơ quan áp dụng pháp luật có được cái nhìn tổng quan, đúng đắn xuyên suốt quá trình xét xử vụ án có đồng phạm. Theo khoa học Luật hình sự, người thực hành là người có vai trò quan trọng nhất, vì họ là người thực hiện hành vi nguy hiểm được mô tả trong cấu thành tội phạm. Người thực hành chính là người hiện thực hóa ý định phạm tội của cả nhóm đồng phạm. Mức độ thiệt hại của tội phạm do họ quyết định.
Do đó, nhiều quy định xác định TNHS của vụ đồng phạm phụ thuộc vào hành vi của người thực hành. Tuy nhiên, người thực hành không phải là người nguy hiểm nhất. Theo quan điểm hiện nay, người tổ chức, người xúi giục được coi là người nguy hiểm nhất, vì họ là tác giả tinh thần của tội phạm. Người giúp sức cũng có đóng góp vai trò trong vụ đồng phạm, nhưng mức độ nguy hiểm không như hành vi của người tổ chức, người xúi giục.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân biệt các loại ngƣời đồng phạm với chủ thể của một số tội phạm Trong Bộ luật hình sự, có những hành vi bị coi là tội phạm, có tính chất tương đối giống với hành vi của một trong những người đồng phạm như: người che dấu tội phạm, người không tố giác tội phạm, người hoạt động đắc lực… Do đó, trên thực tế và lý luận cần phân biệt để đảm bảo sự nhận thức thống nhất. Phân biệt các loại người đồng phạm với chủ thể trong tội che giấu tội phạm Che giấu tội phạm là hành vi của người tuy không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của vụ án hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Người thực hiện hành vi che giấu tội phạm phải chịu TNHS về tội che giấu tội phạm trong các trường hợp được quy định tại Điều 313 BLHS 1999.
Tuy nhiên, đến BLHS 2015, vấn đề TNHS của người che giấu tội phạm đã có sự thay đổi.