Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM 1. Khái niệm đồng phạm, hình thức đồng phạm 1. Khái niệm đồng phạm Tội phạm trên thực tế được thực hiện bởi một hoặc nhiều người. Khi tội phạm do nhiều người thực hiện có thể có đồng phạm, hoặc có thể không có đồng phạm tùy vào quy định của Bộ luật hình sự của từng nước.
Nhiều người thực hiện tội phạm có thể là đồng phạm cũng có thể chỉ là trường hợp những người thực hiện tội phạm đã hành động trong sự độc lập hoàn toàn với nhau. Vậy khi nào có đồng phạm, khi nào không có đồng phạm? Việc trả lời câu hỏi pháp lý hình sự này phụ thuộc vào nhận thức, quan niệm về đồng phạm trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Trong lịch sử lập pháp nước ta, Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), đã đề cập đến vấn đề đồng phạm tại các điều 35, 36, 116, 411, 412, 454, 469, 539. Tuy nhiên, Bộ luật không đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm mà tính đồng phạm chỉ mới được thể hiện ở nguyên tắc trừng trị tội phạm: "Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc.
Nếu tất cả người trong nhà đều phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng" [30, tr. Phạm vi đồng phạm không những bao gồm người khởi xướng, kẻ chủ mưu, người a tòng, thủ phạm, tòng phạm, kẻ đồng mưu, kẻ xúi giục mà còn bao gồm cả những người liên quan đến tội phạm: "Những kẻ mưu phản nước theo giặc thì xử chém, nếu đã hành động thì xử tội bêu đầu, kẻ biết việc ấy thì cũng đồng tội" (Điều 412). Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) được khắc in lần đầu năm 1812. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù chịu ảnh hưởng của pháp luật Thanh triều Trung Hoa nhưng nhiều điều luật trong đó có các quy định về đồng phạm vẫn tiếp thu của Bộ luật Hồng Đức, ví dụ Điều 29: "Phàm cùng một tội thì lấy người tạo ý đầu tiên làm thủ, những người tùy tùng giảm một bậc.
Nếu mọi người trong một nhà cùng phạm tội thì buộc tội một mình tôn trưởng" [19, tr. Từ năm 1958 đến trước Cách mạng Tháng tám năm 1945, thực dân Pháp xâm lược nước ta cho nên hệ thống pháp luật hình sự của nước ta lúc đó chịu ảnh hưởng bởi tư duy pháp lý của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa. Hoàng Việt hình luật năm 1933 chỉ còn hiệu lực ở miền trung, đã có hẳn chương IX quy định về chế định đồng phạm với tên gọi: "Nhiều người đồng một tội đại hình hoặc trừng trị - tùng phạm”. Tuy nhiên, bộ luật này cũng không có khái niệm về đồng phạm, chỉ dừng ở nguyên tắc trừng trị tội phạm.
Sau Cách mạng Tháng tám, chế định đồng phạm có sự phát triển, được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật hình sự, nhưng chỉ mới được đề cập ở một số khía cạnh nhất định, vẫn chưa có quy định về khái niệm đồng phạm. Thời gian này, các văn bản pháp luật hình sự nước ta vẫn sử dụng các thuật ngữ "chính phạm", "tòng phạm". Thuật ngữ "đồng phạm" lần đầu tiên xuất hiện trong Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ: "Người phạm tội có thể bị xử, tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản. Các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên" [4, tr.
Thuật ngữ "đồng phạm" ở đây được hiểu tương ứng với thuật ngữ "coauteur" trong luật hình sự Pháp với nghĩa là đồng thực hành [14, tr. Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồng phạm đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý, các báo cáo tổng kết của ngành tòa án. Báo cáo tổng kết công tác năm 1963 của Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra khái niệm “cộng phạm”: "Hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức, hoặc trực tiếp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cùng tham gia tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội" [38, tr. 30]; hoặc Giáo trình Hình luật xã hội chủ nghĩa của Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội đã nêu ra khái niệm hoàn chỉnh hơn: "Hai hoặc nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội phạm thì gọi là cộng phạm" [44].
Bộ luật Hình sự của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 với bốn lần sửa đổi, bổ sung (1989, 1991, 1992, 1997), quy định tại Điều 17: "Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm". Việc Bộ luật Hình sự năm 1985 được ban hành đã đánh dấu một bước phát triển về chất trong hoạt động lập pháp hình sự ở nước ta, Bộ luật này lần đầu tiên quy định khái niệm đồng phạm. Thuật ngữ đồng phạm được sử dụng thay thế cho thuật ngữ cộng phạm được sử dụng trong các văn bản pháp luật hình sự trước đây, mặc dù bản chất pháp lý không thay đổi, nhưng chính xác hơn. Đồng phạm ở đây chỉ sự kiện đồng phạm, quan hệ đồng phạm, người đồng phạm bao gồm cả người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức - khác với nghĩa người đồng phạm chỉ là người đồng thực hành trong Sắc lệnh 223-SL ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ.
Bộ luật hình sự năm 1999 đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm tại khoản 1 Điều 20 như sau: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm". Trên cơ sở khái niệm đồng phạm được quy định tại Điều 20 BLHS 1999, có thể thấy, đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu phản ánh mối liên hệ về mặt khách quan và chủ quan giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm. * Dấu hiệu về mặt khách quan Dấu hiệu về mặt khách quan là dấu hiệu về số lượng người tham gia trong vụ án, dấu hiệu thể hiện tính liên kết về hành vi cùng thực hiện một tội phạm, và dấu hiệu hậu quả của do vụ án đồng phạm gây ra. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Số lượng người trong vụ án: trong vụ án đồng phạm phải có từ hai người trở lên, những người này đều phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
- Tính liên kết về hành vi: Những người trong vụ án đồng phạm phải cùng nhau thực hiện một tội phạm. Hành vi của người đồng phạm này liên kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia. Hành vi của những người đồng phạm phải hướng về một tội phạm, phải tạo điều kiện, hỗ trợ cho nhau để thực hiện một tội phạm thuận lợi, nói cách khác hành vi của đồng phạm này là tiền đề cho hành vi của đồng phạm kia. Hành vi của tất cả những người trong vụ án đồng phạm đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại chung của tội phạm.
- Hậu quả do tội phạm gây ra trong vụ án đồng phạm là hậu quả chung do toàn bộ những người đồng phạm gây ra. Hành vi của mỗi người trong vụ án đều là nguyên nhân gây ra hậu quả chung ấy, mặc dù có người trực tiếp, người gián tiếp gây ra hậu quả. Đây là đặc điểm về quan hệ nhân quả trong vụ án đồng phạm. Hành vi của những người đồng phạm có thể thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động (hành vi của người trực tiếp thực hiện tội phạm, hành vi giúp sức), hoặc chỉ có thể là hành động (hành vi xúi giục, hành vi tổ chức việc thực hiện tội phạm).
* Dấu hiệu về mặt chủ quan Dấu hiệu chủ quan của đồng phạm là sự cố ý của những người tham gia thực hiện một tội phạm và trong sự tư do ý chí của mình, họ chủ động liên kết với nhau để thực hiện tội phạm. Đây là dấu hiệu bắt buộc mà thiếu nó, nếu thỏa mãn những dấu hiệu của mặt khách quan nêu trên vẫn không có đồng phạm. Tất cả những người trong vụ án đồng phạm phải có hình thức lỗi cố ý và cùng thực hiện một tội phạm. Sự cố ý của những người đồng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm thể hiện mối liên hệ, tác động tâm lý giữa những người đồng phạm với nhau.
Tất cả họ đều thấy rõ hành vi của toàn bộ những người trong vụ án đều nguy hiểm cho xã hội. Mỗi người đồng phạm đều thấy trước hành vi của mình và hành vi của người đồng phạm khác trong vụ án đồng phạm là nguy hiểm, thấy trước hành vi của tất cả những người đồng phạm đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại. Các yếu tố phân tích trên đây là cơ sở để khẳng định hay loại trừ trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức trong trường hợp người thực hành thực hiện các hành vi vượt quá trong đồng phạm. Không xuất hiện đồng phạm nếu không có sự liên kết, sự tác động, ảnh hưởng về tâm lý giữa những người thực hiện tội phạm.
Nói như vậy không đồng nghĩa với việc trong các vụ án có đồng phạm tất cả những người tham gia phải biết rõ về nhau, biết rõ về từng hành vi phạm tội của nhau. Thực tiễn xét xử cho thấy một số loại tội nghiêm trọng về an ninh quốc gia hoặc những đường dây mua bán ma túy có tổ chức, có đông người tham gia, do tính chất của tội phạm, mọi người chỉ có thể biết nhau qua từng "mắt xích". Điều cơ bản là họ nhận thức được hành vi của mình có sự liên kết, gắn bó với hành vi của những người khác, giữa họ có sự liên kết ủng hộ về tinh thần. Ngoài dấu hiệu cùng cố ý thực hiện tội phạm đã phân tích ở trên đồng phạm đòi hỏi phải có sự thống nhất về mục đích, động cơ phạm tội khi thực hiện những tội mà luật quy định mục đích, động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
Ví dụ: Điều 91 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định rõ tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; Điều 167 Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế thì động cơ vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc.