Chương 1. Vài nét về gia đình và thân thế của Bùi Kỷ 6 z Trong chương này, luận văn trình bày các đặc điểm nổi bật của bối cảnh lịch sử dân tộc cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX; truyền thống quê hương Hà Nam, dòng họ Bùi Châu Cầu – Mễ Tràng và gia đình của Bùi Kỷ - Những chất xúc tác có tác động đến quá trình học tập và lập thân của ông. Hoạt động của Bùi Kỷ trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục Chương 2 của luận văn nêu và phân tích các hoạt động chủ yếu của Bùi Kỷ trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục, bao gồm các hoạt động: Giảng dạy, tham gia phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ 1934-1945, sự nghiệp văn chương. Chương 3: Hoạt động yêu nước và cách mạng của Bùi Kỷ Trong chương này, luận văn trình bày rõ ràng hoạt động yêu nước và cách mạng của Bùi Kỷ trong sự liên hệ với các trí thức cách mạng tiêu biểu và phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đóng góp của Bùi Kỷ đối với quê hương, đất nước Đây là phần đánh giá của tác giả luận văn về những đóng góp của danh nhân Bùi Kỷ đối với quê hương, đất nước thông qua những hoạt động sự nghiệp của ông. 7 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1. VÀI NÉT VỀ GIA ĐÌNH VÀ THÂN THẾ CỦA BÙI KỶ 1. Bối cảnh Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX Sau những tính toán, thăm dò, ngày 1-9-1858, với những phát súng đầu tiên tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), thực dân Pháp chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Tuy vậy, phải cho đến năm 1897, về cơ bản, Pháp mới hoàn thành công cuộc bình định nước ta và bắt đầu tập trung khai thác thuộc địa. Chính sách, thủ đoạn khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp là toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa. Điều này đã có những tác động sâu sắc, làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX. Về chính trị Trong suốt gần 40 năm kháng chiến chống Pháp, triều đình nhà Nguyễn đã lần lượt ký các hiệp ước mang tính chất nhân nhượng, đầu hàng Pháp.
Cho đến năm 1884, bằng Hiệp ước Pa-tơ-nốt, thực dân Pháp đã thành công trong cuộc xâm lược Việt Nam. Với Hiệp ước này, triều đình nhà Nguyễn chấp nhận sự cai trị của người Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Mặc dù trở thành xứ thuộc địa của Pháp, nhưng về hình thức thì nước ta bị chia thành 3 miền với các chế độ chính trị khác nhau: Nam Kỳ là xứ thuộc địa, Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, còn Trung Kỳ là xứ nửa bảo hộ. Vua Nguyễn vẫn tồn tại nhưng không có thực quyền mà chỉ là bù nhìn, phải tuân theo mệnh lệnh của Toàn quyền Đông Dương.
Dưới quan Toàn quyền có quan người Pháp trực tiếp cai quản các xứ: Thống sứ (Bắc Kỳ), Khâm sứ (Trung Kỳ) và Thống đốc (Nam Kỳ). Như thế, về mặt chính trị, Pháp luôn quán triệt thực hiện chính sách “chia để trị”; đồng thời, cử nhiều quan lại người Pháp đến làm việc tại Việt Nam cũng như áp dụng chính sách “Dùng người Việt trị người Việt”. Với các chính sách đó và bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, thực dân Pháp đã từng bước thiết lập bộ máy chính quyền thực dân tại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung. Về kinh tế Bản chất của chủ nghĩa thực dân là tranh giành thị trường và thuộc địa.
Do đó, mục tiêu tối thượng của Pháp là biến Việt Nam trở thành thuộc địa nhằm độc quyền 8 z về thị trường, khai thác tài nguyên và bóc lột sức lao động để thu được nguồn lợi nhuận tối đa. Ngay sau khi hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, nhà cầm quyền Pháp đã nhanh chóng tiến hành các chương trình khai thác thuộc địa. Các chính sách về kinh tế của Pháp được thực hiện với tốc độ nhanh, nguồn vốn lớn và tăng dần qua các năm. Nếu như trong Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914), số tiền tư bản Pháp đầu tư vào Việt Nam là trên 500 triệu Phrăng, thì nguồn vốn này đã tăng gấp nhiều lần trong Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929).
Nguồn vốn của Pháp tập trung trong các ngành khai mỏ, sản xuất nông nghiệp, kỹ nghệ, giao thông vận tải và thương nghiệp. Đó là điều kiện dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các đồn điền, công ty khai mỏ, cơ sở công nghiệp và thương nghiệp. Dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, nền kinh tế Việt Nam có những chuyển biến rõ rệt và ngày càng sâu sắc. Bên cạnh một nền kinh tế què quặt, phụ thuộc vào chính quốc Pháp là một nền kinh tế mang tính chất tư bản chủ nghĩa.
Sự chuyển biến về cơ cấu và tính chất nền kinh tế đã làm thu hẹp và biến dạng các quan hệ kinh tế cũ, thúc đẩy nhanh quá trình đưa nền kinh tế Việt Nam vào quỹ đạo phát triển tư bản chủ nghĩa, xu hướng phát triển tự nhiên và tất yếu của nhân loại. Cùng với đó, Pháp cũng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Hệ thống đường xá gồm đường bộ, đường thủy, đường sắt được sửa chữa, xây mới nhằm phục vụ đắc lực cho việc vận chuyển vũ khí, nhân lực, tài nguyên, hàng hóa. Ngoài ra, hệ thống viễn thông với khoảng 14.000km đường dây điện thoại, nhiều bến cảng, kho tàng… được đưa vào hoạt động.
Cũng nhờ vậy, quá trình hiện đại hóa của Việt Nam được thúc đẩy nhanh hơn, bớt dần sự lạc hậu so với thế giới bên ngoài. Về văn hóa, giáo dục Sau khi chiếm được 6 tỉnh Nam Kỳ, Pháp đã tìm cách xóa bỏ chế độ thi cử Hán học ở đây. Kể từ sau khoa Giáp Tý 1864 tại trường thi An Giang, kỳ thi Hương ở Nam Kỳ không còn được tổ chức nữa. Thay vào đó, Pháp bắt đầu thiết lập hệ thống giáo dục mới ở Nam Kỳ.
Trong khi đó tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ, thực dân Pháp tỏ ra dè dặt hơn, bên cạnh hệ thống giáo dục mới, họ vẫn tiếp tục duy trì chế độ khoa cử 9 z Hán học thêm một thời gian nữa nhưng có sửa đổi về hình thức cũng như nội dung thi. Từ năm 1886 đến năm 1917, chế độ giáo dục nước ta tồn tại song song hai hệ thống: Giáo dục Pháp - Việt và giáo dục Nho học đang trong thời kỳ quá độ. Năm 1905, Pháp thành lập Hội đồng cải cách giáo dục và Nha học chính Đông Dương. Chương trình cải cách nhằm duy trì và cải tổ nền giáo dục cũ theo mục đích, chương trình và phương pháp của các trường Pháp - Việt, trên cơ sở đó, mở rộng các trường Pháp - Việt thêm một bước.
Tất cả các bậc học đều có dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Đến năm 1913, chữ Hán bị loại bỏ hẳn khỏi các trường học. Bên cạnh các trường phổ thông, Pháp đã mở thêm một số trường học mới như Trường Thông ngôn, Trường Quốc gia học đường, Trường Nữ Trung học Sài Gòn, Trường Đồng Khánh, Trường Marie Curie. cùng một số trường chuyên nghiệp ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội.
Từ cải tổ chế độ khoa cử, Pháp tiến tới xóa bỏ hoàn toàn nền giáo dục Hán học tại Việt Nam. Khoa thi Hương ở Bắc Kỳ đã bị bãi bỏ vào năm 1915, còn ở Trung Kỳ là năm 1919. Ngày 21-12-1917, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut đã ban hành một văn bản cải cách giáo dục ở Đông Dương, mang tên Quy chế chung về giáo dục ở Đông Dương (thường được gọi là Học chính tổng quy). Nội dung chủ yếu của quy chế này là quy định các cấp học và những vấn đề có liên quan như thi cuối cấp, bộ máy quản lý, tiêu chuẩn giáo viên.
Bản quy chế quy định rõ là giáo dục Đông Dương chủ yếu là giáo dục phổ thông và giáo dục thực nghiệp. Trường học chia thành 2 loại: Trường Pháp và trường Pháp - Việt. Hệ thống giáo dục phân chia thành 3 cấp: Đệ nhất cấp (tức Tiểu học), Đệ nhị cấp (Trung học), Đệ tam cấp (Cao đẳng). Ngoài ra, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, Pháp còn lập ra một số cơ sở nghiên cứu khoa học như Viện Vi trùng học, Trường Viễn Đông Bác cổ, Nha Khí tượng, Viện Nghiên cứu nông nghiệp và kỹ nghệ Sài Gòn, Trường Cao đẳng Y khoa Hà Nội… Những chính sách về văn hóa, giáo dục của thực dân Pháp đã làm cho đời sống xã hội và văn hóa Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX đã có những chuyển biến.
Nền giáo dục mới không chỉ làm xuất hiện một đội ngũ trí thức Tây học am hiểu 10 z nhiều lĩnh vực chính trị, tư tưởng, triết học, văn học nghệ thuật phương Tây, mà còn tác động tới cả một bộ phận trí thức phong kiến cũ, biến họ trở thành những trí thức phong kiến tư sản hóa. Trong điều kiện của một xã hội thuộc địa, chính tầng lớp trí thức vừa mới vừa cũ này đã trở thành lực lượng quan trọng trong việc tiếp thu và truyền bá những tư tưởng mới trong nhân dân, chống lại hệ tư tưởng phương Đông đã lỗi thời, lạc hậu. Tuy vậy, thực dân Pháp vẫn tìm cách tuyên truyền một nền văn hóa lai căng, mị dân. Thống sứ Bắc Kỳ trong báo cáo ngày 1-3-1899 gửi Toàn quyền Đông Dương, viết: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Á khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột” [55, tr.
Về xã hội Dưới tác động của các chính sách của thực dân Pháp, cơ cấu xã hội Việt Nam có sự biến chuyển sâu sắc: những giai cấp cũ bị phân hóa và xuất hiện thêm những giai cấp mới. Hai giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất phong kiến là địa chủ và nông dân đã có sự phân hóa mạnh mẽ. Trong khi giai cấp địa chủ với khuynh hướng tư sản kiêm địa chủ, đặc biệt là tầng lớp đại địa chủ Nam Kỳ ngày càng giàu có, thì nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hóa và phá sản hàng loạt bởi chính sách chiếm đoạt ruộng đất của thực dân và địa chủ cũng như chính sách tô thuế nặng nề của Pháp. Sự thay đổi quan trọng nhất trong cơ cấu xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX là sự xuất hiện của các tầng lớp và giai cấp mới đại diện cho phương thức sản xuất mới tư bản chủ nghĩa.
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ trước Chiến tranh thế giới I đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng.