Chương 1 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam là một vấn đề nóng bỏng và phức tạp. Các quy định về bồi thường đất nông nghiệp thường xuyên thay đổi. Chính vì vậy, đã dẫn tới tình trạng so bì, khiếu kiện của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm. Ngoài ra, Luật đất đai 2013 chưa có cơ chế bắt buộc để bảo đảm có quỹ đất và nguồn vốn xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất.
Việc lập kế hoạch và phương án bồi thường tại một số dự án còn thiếu thiếu dân chủ, công khai, minh bạch. Vì vậy, quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đã trở thành một nội dung quan trọng, mang tính tất yếu trong pháp luật đất đai. 13 Bên cạnh việc làm rõ nội hàm những khái niệm cơ bản về đất nông nghiệp, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, đồng thời đã luận giải một cách thấu đáo khái niệm, đặc điểm và những yếu tố chi phối tới pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Đây là tiền đề để có thể hiểu rõ hơn các quy định cụ thể của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được tìm hiểu trong luận văn.
14 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH 2. Thực trạng quy định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đấtnông nghiệp tại tỉnh Bình Định 2. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Bình Định có liên quan đến pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp - Đặc điểm tự nhiên Bình Định là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông. Bình Định nằm ở Trung tâm của trục Bắc - Nam (trên cả 4 tuyến Quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt, đường hàng không nội địa và đường biển), là cửa ngõ ra biển gần nhất và thuận lợi nhất của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Thái Lan (bằng cảng biển quốc tế Quy Nhơn và Quốc lộ 19).
Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (theo Quyết định số 54/2009/QĐ-TTg ngày 14/4/2009), Bình Định được xác định sẽ trở thành tỉnh có nền công nghiệp hiện đại và là một trong những trung tâm phát triển về kinh tế - xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước. Tỉnh Bình Định có 11 đơn vị hành chính gồm 09 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố. Quy Nhơn là thành phố loại I trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của tỉnh. Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 605.058 ha, chia thành 11 nhóm đất với 30 loại đất khác nhau trong đó quan trọng nhất là nhóm đất phù sa có khoảng trên 70 nghìn ha phân bố dọc theo lưu vực các sông.
Diện tích đất chưa sử dụng còn chiếm diện tích rất lớn. Đây là một tiềm năng lớn cần được đầu tư khai thác. Tài nguyên khoáng sản ở Bình Định khá đa dạng, đáng chú ý nhất là đá granít có trữ lượng khoảng 500 triệu m3, với nhiều màu sắc đỏ, đen, vàng… là vật liệu xây dựng cao cấp được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng; sa khoáng titan tập 15 trung ở mỏ Đề Gi (Phù Cát) trữ lượng khoảng 1,5 triệu m3; cát trắng ở Hoài Nhơn, trữ lượng khoảng 90. Nhiều nguồn nước khoáng được đánh giá có chất lượng cao đã và đang được đưa vào khai thác sản xuất nước giải khát, chữa bệnh.
Toàn tỉnh có 4 nguồn nước khoáng là Hội Vân, Chánh Thắng (Phù Cát), Bình Quang (Vĩnh Thạnh), Long Mỹ (Tuy Phước), riêng nguồn nước khoáng nóng Hội Vân đảm bảo các tiêu chuẩn chữa bệnh và có thể xây dựng nhà máy điện địa nhiệt. Ngoài ra, còn có các khoáng sản khác như cao lanh, đất sét và đặc biệt là các quặng vàng ở Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn. Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định tổng diện tích đất tự nhiên là 605.058 ha được phân bổ sử dụng với diện tích cơ cấu đất đai như sau: Bảng 2.Diện tích phân bố các loại đất của tỉnh Bình Định + Đất nông nghiệp 441.618 ha + Đất phi nông nghiệp 69.452 ha + Đất đô thị 7.060 ha + Đất khu bảo tồn thiên nhiên 23.828 ha + Đất du lịch 889 ha + Đất chưa sử dụng 93.998 ha Ta có thể thấy tỉ lệ phân bố các loại đất qua hình 2.Tỷ lệ phân bố các loại đất của tỉnh Bình Định 16 Bảng 2.Diện tích, cơ cấu sử dụng đất đaitỉnh Bình Định từ năm 2010 đến 2020 Hiện trạng năm Quy hoạch đến năm 2020 2010 Cấp Cấp Tổng số TT Loại đất Diện tích Cơ cấu quốc gia tỉnh xác Cơ cấu Diện tích (ha) (%) phân bổ định (ha) (%) (ha) (ha) TỔNG DIỆN TÍCH 605.058 100,00 TỰ NHIÊN 1 Đất nông nghiệp 441.002 10,04 Trong đó: Đất chuyên trồng lúa 44.2 Đất trồng cây lâu năm 31.3 Đất rừng phòng hộ 150.4 Đất rừng đặc dụng 23.5 Đất rừng sản xuất 132.6 Đất làm muối 191 0,04 190 1 191 0,04 1.7 Đất nuôi trồng thủy sản 2.686 0,53 2 Đất phi nông nghiệp 69.127 14,90 3 Đất chưa sử dụng 93.390 2,05 Đất khu bảo tồn 5 23.865 4,61 thiên nhiên 6 Đất khu du lịch 889 0,15 5.033 0,83 Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định - Đặc điểm kinh tế - xã hội Kinh tế, đặc điểm nổi bật của kinh tế Bình Định là kinh tế biển và cảng biển bởi chính những ưu thế về vị trí địa lý và tài nguyên biển đã tạo nên nét đặc trưng 17 này.Trong những năm qua cùng với sự phát triển của cả nước, kinh tế tỉnh Bình Định đã có sự tăng trưởngvới tốc độ cao. Theo báo cáo tình hình kinh tế- xã hội cuối năm 2017 của tỉnh Bình Định,nền kinh tế của tỉnh tiếp tục tăng trưởng và phát triển.
Giá trị tổng sản phẩm địa phương (GRDP) tăng bình quân hàng năm 9,2%, GRDP bình quân đầu người cuối năm 2017 ước đạt 53,5 triệu đồng.Trong cơcấukinh tế tỉnh Bình Định, công nghiệp và xây dựng chiếm 30,5% GDP; các ngành du lịch và dịch vụ chiếm 39,8% GDP; giá trị sản xuất của các ngành nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp hàng năm đóng góp25,4%GDPcủa tỉnh Bình Định. Sản lượng lúa cả năm 2017 ước tính đạt 42,84 triệu tấn;sản xuất hoa màu và một số cây hàng năm ước tính đạt 97,2 triệu tấn;diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm ước tính đạt 2.215,1 nghìn ha;sản lượng cây ăn quả ước tính đạt 887,3 nghìn tấn;sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 3. Văn hoá - xã hội, nguồn nhân lực của tỉnh Bình Định khá dồi dào.Dân số tỉnh Bình Định hiện nay khoảng 1,5 triệu người (chiếm 1,6% dân số cả nước – 95,57 triệu người). Mật độ dân số trung bình 251,1 người/km2,tỷ lệ dân số thành thị chiếm 30,8%, nông thôn chiếm 69,2%.
Sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã tác động tích cực đến cơ cấu lao động của tỉnh theo xu hướng giảm tỷ trọng lao động thuộc khu vực nông, lâm, thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tính đến nay, dân số trên 15 tuổi tỉnh Bình Định là 1.468 người, trong đó dân số thành thị 352.224 người chiếm 28,6 %, dân số nông thôn 877.244 người chiếm 71,4%. Hòa trong sự phát triển chung của đất nước,Bình Định đã và đang tập trung các nguồn lực đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng, phát triển các ngành kinh tế trọng điểm mà tỉnh có lợi thế là công nghiệp chế biến lâm - nông - thuỷ sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, giày da, may mặc, cơ khí, cảng biển nước sâu, sản xuất lắp ráp đồ điện, điện tử, sản xuất điện, phát triển du lịch, dịch vụ hàng hải, thương mại, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bưu chính, viễn thông.Trong những năm gần đây các ngành công nghiệp - xây dựng có nhịp độ phát triển cao, các ngành nông nghiệp, dịch vụ phát triển với nhịp độ khá ổn định kéo theo nhu cầu sử dụng 18 đất rất lớn, với hàng loạt dự án triển khai như: Dự án quốc lộ 19 nối Cảng Quy Nhơn lên quốc lộ 19; Dự án CEPT Nhà máy nước thải Nhơn Bình; Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1D (Đoạn từ Ngã ba Long Vân đến bến xe liên tỉnh; Dự án xây dựng Trung Tâm Quốc tế gặp gỡ khoa học đa ngành; Dự án Khu kinh tế Nhơn Hội, Khu công nghiệp Phú Tài; Dự án quy hoạch khu dân cư đảo 1A; Khu Đô thị - Thương mại Bắc sông Hà Thanh, thành phố Quy Nhơn…một diện tích lớn đất nông nghiệp mà chủ yếu là đất trồng lúa và hoa màu đã được thu hồi trên địa bàn tỉnh Bình Định để phục vụ việc phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh cũng như sự phát triển chung của cả nước. Tuy một lượng lớn đất nông nghiệp đã bị thu hồi, chuyển đổi mục đích sản xuất nhưng hiện nay với hơn 70% dân số nông thôn trong đó có gần 60% dân số làm nghề nông Bình Định vẫn được đánh giá là một tỉnh mà nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế.
Khi Nhà nước thu hồi đất, vấn đề bồi thường về đất luôn là vấn đề phức tạp, xảy ra nhiều tranh chấp, khiếu nại nhất vì phần giá trị được bồi thường tương đối lớn trong tổng giá trị được bồi thường. Đối với đất nông nghiệp, việc bồi thường về đất được pháp luật quy định cơ bản như sau: 2. Các quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Việc quản lý đất đai nói chung luôn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đối với vấn đề nhạy cảm, dễ phát sinh khiếu kiện như bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì các quy định của pháp luật càng phải bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản.