Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE GIẢI QUYET TRANH CHAP ĐÁT ĐAI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN 1. Khái quát chung về giải quyết tranh chap dat đai 1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp đất đai 1. Khái niệm về tranh chấp đất dai Đất đai là tài nguyên rất quan trọng và có ý nghĩa đối với sự phát triển của đất nước.
Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu của con người đối với đất đai luôn gia tăng, tăng không chỉ về số lượng người cần đất đai để sinh sống, mà còn tăng cả những tham vọng độc chiếm muốn chiếm hữu loại hàng hóa đang dần khan hiếm này. Dé giải mã khái niệm tranh chấp dat đai, trước tiên cần hiểu “tranh chấp” là gì? Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Tranh chấp: 1. Giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào, 2. Bat đồng, trái ngược nhau” [18, tr.
Hoặc theo Từ điền tiếng Việt “Tranh chấp: Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”.1024] Như vậy, theo ngôn ngữ học, tranh chấp được hiểu là những bất đồng, trai ngược nhau giữa hai hoặc nhiều thực thể trong tự nhiên hoặc xã hội. Theo Black’s Law Dictionary thuật ngữ tranh chap (dispute) được định nghĩa là một xung đột, cuộc đấu tranh về tư tưởng hoặc là sự tranh luận, tranh cãi mà có thê trở thành một vụ kiện [38, tr. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ tranh chấp đất dai đã ton tại từ lâu trong thực tiễn đời sống. Chăng hạn, Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 có quy định: “Ở những nơi phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất, sẽ lập Toà án Nhân dân Đặc biệt.
Tòa án Nhân dân đặc biệt có nhiệm vụ xét xử những vụ tranh chấp về ruộng đất và tài sản có liên quan đến cải cách ruộng đất”. Hoặc trong Thông tư số 45-NV/TC được ban hành ngày 02 tháng 7 năm 1958 của Bộ Nội vụ về việc phân phối và quản lý đất bãi sa bồi đã đề cập đến thuật ngữ “tranh chấp đất bãi sa bồi” nhăm chỉ hiện tượng tranh chiếm đất bãi và hoa màu mà người dân chưa kịp phân phối, điều chỉnh đất bãi sa bồi. Đây được gọi là những thuật ngữ tiền thân của khái niệm tranh chấp đất đai trước khi được ghi nhận vào Luật Đất đai năm 1987, những thuật ngữ này mang tính lịch sử khi chúng đều có đối tượng tranh chấp cụ thê (đất ruộng, đất bãi sa bồi) mà chưa có tính khái quát hóa nên chỉ phù hợp với giai đoạn lịch sử nhất định. Tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Theo từ điển Luật học ghi nhận về quyền sử dụng đất: “Quyền của các chủ thê được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyền giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyên đổi, chuyên nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho,.từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất.655] Như vậy, trong một mối quan hệ tranh chấp đất đai, khi hai bên không sở hữu dat đai — đối tượng mà chủ thé giành giật — mà chỉ có quyền sử dung đất dé tranh chiếm. Điều này được cho là phù hợp với quan điểm thứ nhất. Đối với quan điểm thứ hai, tranh chấp đất đai đã được mở rộng phạm vi bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất và tranh chấp trong quá trình giao dịch dân sự về đất đai.
Trong đó, tranh chấp liên quan đến quá trình giao dịch dân sự về đất đai, thực chất đây là những tranh chấp dân sự, bao gồm tranh chấp hợp đồng chuyên đổi, chuyên nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. Mặt khác, BLTTDS năm 2015 cũng đã quy định tranh chấp trong quá trình giao dịch dân sự về đất đai và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất chính là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự hoặc tranh chấp về thừa kế tài sản [38, tr. Theo quan điểm cá nhân, người viết nhận thấy quan điểm 10 thứ hai là tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền sử dụng đất và tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất có sự hợp lý cả về ngôn ngữ và thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta hiện nay. Về mặt ngôn ngữ giải thích khái niệm này của Luật Đất đai năm 2013, tác giả luận văn có cách nhìn nhận đánh giá van đề này chưa thực sự khoa học, bởi lẽ quy định trên đã sử dụng một thuật ngữ đang cần làm rõ là cụm từ “tranh chấp” dé định nghĩa cho một khái niệm có nội hàm tương tự tranh chấp đất đai.
Tiếp đó, định nghĩa lại diễn giải theo hướng xác định nội dung tranh chấp bao gồm tranh chấp về quyên và tranh chấp nghĩa vụ của người sử dụng đất. Đối với tranh chấp về quyền là các xung đột, mâu thuẫn giữa các bên trong quan hệ đất đai, khi hành vi của chủ thé trong quan hệ đó xâm phạm đến kha năng xử sự theo những cách thức nhất định mà pháp luật cho phép. Ví dụ, nếu một trong quan hệ đất đai một bên có hành vi trái phép xây dựng lấn chiếm diện tích đất của hộ liền kề, điều này đã vi phạm pháp luật cụ thể xâm phạm tới quyền sử dụng đất hợp pháp của những hộbị lấn chiếm. Còn đối với tranh chấp về nghĩa vụ, người viết cho rằng dé giải thích trong nội hàm khái niệm tranh chấp đất đai là không hợp lý.
Bởi lẽ, nghĩa vụ là “cách xử sự mà chủ thé buộc phải thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thê khác”. Do vậy, không ai chịu trách nhiệm với việc thực hiện nghĩa vụ trừ khi nghĩa vụ đó cũng là quyền lợi của cá nhân người đó. Theo giáo trình Luật Dat đai của PGS.TS Doãn Hồng Nhung thì “7ranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất dai về quyên và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dung dat” [10, tr. Theo Giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai” [37, tr.
Từ những khái niệm trên, theo quan điểm của tác giả, dựa trên kế thừa những quan điêm, nghiên cứu, dựa trên chê độ sở hữu đât đai ở từng quôc gia, mà ở Việt II Nam đó là chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Từ những phân tích các quan điểm nêu trên và tham khảo các khái niệm, luận văn sẽ đi vào tiếp cận khái niệm tranh chấp dat đai như sau: Tranh chấp dat dai là sự xung đột, mâu thuẫn về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dung đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đại. Đề có thê cách hiểu đầy đủ về khái niệm tranh chấp đất đai, ta có thể đề cập đến vấn đề khiếu nại về đất đai, là một thuật ngữ thường được cùng đề cập trong thực tiễn cuộc sống. Trong bối cảnh tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai vẫn luôn diễn biến phức tạp và có tinh chất tranh chấp ngày càng gay gắt, kéo dài, tập trung vào bồi thường giải phóng mặt bằng phát triển các khu đô thị (chiếm gần 70% tổng số vụ khiếu nại, t6 cáo [13], trong đó, chủ yếu liên quan đến vấn đề khiếu nại giá đất bồi thường tại một số địa phương.
Qua tìm hiểu, có thể hiểu khái niệm khiếu nại về đất đai như sau: “Khiếu nại về đất đai là việc công dân (cơ quan, tổ chức) đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thâm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng những hành vi đó là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.471] Mặc dù khiếu nại và tranh chấp về đất đai đều có điểm chung như là có hành vi xâm phạm đến quyên và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trong quan hệ đất đai, tuy nhiên khiếu nại về đất đai cụ thể là quan hệ giữa UBND với công dân, tổ chức, cơ quan. Đối tượng của khiếu nại về đất đai là quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong quản ly đất đai khi thi hành công vụ, gây thiệt hại cho công dân, tô chức. Mối quan hệ pháp lí trong khiếu nại về đất đai là bất bình đăng, còn mối quan hệ pháp lí trong tranh chấp đất chính là địa vị pháp lí bình đăng giữa hai hoặc các bên tranh chấp. Như vậy, có thể thấy sự khác biệt về bản chất giữa tranh chấp đất đai và khiếu nại về đất đai, trong đó những tranh chấp mang tính dân sự thì cần phải theo các quy định của pháp luật về dân sự, ngược lại khiếu nại là “tranh chấp” có tính chất hành chính và được giải quyết theo pháp luật về hành chính.
12 Mặt khác, nguồn luật điều chỉnh tranh chấp đất đai và khiếu nại về đất đai khác nhau, dẫn đến sự nhằm lẫn về hai van dé này trong quá trình giải quyết tranh chấp tạo các địa phương là điều dễ nhận thấy. Có rất nhiều vụ việc tranh chấp đất đai được người giải quyết cho là “khiếu nại” nhưng sau đó người ta thêm từ “đòi đất” hay “tranh chấp đất đai” để thành cụm từ không rõ ràng và chưa hề có một văn bản pháp luật nào của Nhà nước ta quy định (như: “khiếu nại đòi đất”, “khiếu nại tranh chấp đất đai”, “khiếu nại đòi đất cũ”, “khiếu nại đòi đất tập đoàn”. Theo đó, vì coi “tranh chấp” là “khiếu nại” nên trong quá trình giải quyết, nhiều nơi không tuân theo quy định của Luật Đất đai (Điều 203 và 204) mà lại vận dụng Luật Khiếu nại, tố cáo để giải quyết. Điều đó là sai vì trình tự, thâm quyên giải quyết, thời hạn, thời hiệu khác nhau và đặc biệt là quyết định giải quyết tranh chấp là phán quyết chung thẩm, có hiệu lực thi hành ngay, còn đối với quyết định giải quyết khiếu nại có thé bị khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính.