chương 1 trong Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ ban hành “Quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục và đào tạo” có ghi:Thanh tra giáo dục và đào tạo thực hiện quyền thanh tra nhà nước về giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước nhằm tăng cường hiệu lực quản bảo đảm và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành về giáo dục. Thanh tra giáo dục thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lí nhà nước về giáo dục, nhằm bảo đảm việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lí vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục (Chính phủ, 2013). Theo Quang Anh và Hà Đăng (2003), thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành về giáo dục, là sự kiểm tra có tính chất Nhà nước của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân cấp dưới do tổ chức thanh tra tiến hành với các chức năng: đánh giá, phát hiện, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng thanh tra nhằm đảm bảo việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, giúp đỡ đối tượng hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục, góp phầnnâng cao chất lượng và hiệu quả GD&ĐT (Quang Anh và Hà Đăng, 2003).
Như vậy, từ các khái niệm về thanh tra giáo dục có thể hiểu thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành, thực hiện quyền thanh tra Nhà nước về giáo dục và đào tạo vừa bộc lộ quyền lực Nhà nước, vừa đảm bảo dân chủ, kỉ cương trong hoạt động giáo dục và đào tạo. Cộng tác viên thanh tra giáo dục Theo thông tư số 54/2012/TT-BGDĐT được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 31/2014/TT-BGDĐT, cộng tác viên thanh tra giáo dục được hiểu như sau (Bộ GD&ĐT, 2012). + Cộng tác viên thanh tra giáo dục thường xuyên là công chức, viên chức trong ngành giáo dục, không thuộc biên chế của cơ quan thanh tra, có đủ tiêu chuẩn theo quy định, được cơ quan có thẩm quyền cấp thẻ cộng tác viên thanh tra giáo dục, trưng tập làm nhiệm vụ thanh tra. 10 + Cộng tác viên thanh tra giáo dục theo vụ việc là công chức, viên chức trong và ngoài ngành giáo dục, không thuộc biên chế của cơ quan thanh tra giáo dục, được trưng tập tham gia đoàn thanh tra theo vụ việc Tiêu chuẩn của cộng tác viên thanh tra giáo dục được nêu cụ thể như sau: - Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, công minh, khách quan - Am hiểu pháp luật và có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ thanh tra giáo dục Riêng đối với cộng tác viên thanh tra giáo dục thường xuyên thì phải có thêm các tiêu chuẩn như: - Thời gian công tác trong ngành giáo dục từ 5 năm trở lên - Đạt chuẩn về trình độ đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục; được đánh giá xếp loại khá trở lên theo chuẩn nghề nghiệp hoặc chuẩn hiệu trưởng, chuẩn giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên đối với từng cấp học và trình độ đào tạo; được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác hàng năm (đối với các trường hợp không phải là giảng viên, giáo viên).
- Đã được cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ cộng tác viên thanh tra giáo dục theo chương trình do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Bồi dưỡng Theo Đặng Quốc Bảo (1997),bồi dưỡng là tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất cho đối tượng tham gia bồi dưỡng. Như vậy, bồi dưỡng là quá trình làm tăng thêm về trình độ hiểu biết, tư cách đạo đức, phẩm chất chính trị của con người. Bồi dưỡng nhằm mục đích bổ sung kiến thức, thông qua quá trình bồi dưỡng sẽ giúp cho đối tượng được bồi dưỡng nâng dần trình độ, chất lượng công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao (Đặng Quốc Bảo, 1997).
Một cách cụ thể hơn, có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, quá trình tăng cường năng lực nói chung trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo. Thông thường, bồi dưỡng có nhiệm vụ cập nhật trang bị thêm, trang bị mới kiến thức, kỹ năng thái độ cho cán bộ để thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nhiệm vụ được giao. Công 11 tác bồi dưỡng phải chú ý cả các mặt chính trị và tư cách, kiến thức và khả năng sáng tạo vận dụng của đối tượng tham gia bồi dưỡng vào thực tiễn (Nguyễn Mạnh Bình, 2001). Như vậy, hoạt động bồi dưỡng được xác định là một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó.
Bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho các đối tượng học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, là cán bộ, nhân viên làm việc trong tổ chức. Năng lực Khái niệm “năng lực” được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nó là một công cụ sắc bén, linh hoạt hơn và rất hữu ích trong quản lý nguồn nhân lực trong một thế giới luôn biến đổi. Khi phân tích năng lực làm việc cho phép đánh giá rất chính xác khả năng cơ động từ một cấp độ việc làm này sang một cấp độ việc làm khác, từ vị trí việc làm này sang vị trí việc làm khác, biết được các điều kiện, tiêu chuẩn cần có để một người làm việc ở một vị trí việc làm, một công việc hay nghề nghiệp nhất định trong một tổ chức hay nói cách khác khi xác định được khung năng lực tiêu chuẩn của một vị trí việc làm cho phép chúng ta đánh giá mức độ hòa hợp giữa việc làm và người làm việc làm. Khi chúng ta so sánh các năng lực cần có của hai công việc khác nhau hoặc xem xét những năng lực mà một công việc cụ thể ngày hôm nay đòi hỏi so với những năng lực cần thiết cho công việc đó trong tương lai cho phép chúng ta hình thành những ý tưởng đào tạo cần thiết hay dự kiến các khả năng thay đổi của một nhân viên trong tổ chức để từ đó có sự điều chỉnh, thay đổi hợp lý để thực hiện mục tiêu phát triển của tổ chức.
Theo từ điển tiếng Việt, "năng lực" là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Có tài liệu giải thích "năng lực" là tính chất của người có những điều kiện tự nhiên hoặc do rèn luyện, học tập hay kinh nghiệm tạo ra để làm được hoặc làm tốt một việc gì đó”. Có quan điểm khác cho rằng "năng lực" là những thuộc tính tâm lý của cá nhân giúp cho việc con người lĩnh hội một lĩnh vực kiến thức nào đấy được dễ dàng và nếu họ tiến hành hoạt động trong lĩnh vực đó thì sẽ có kết quả cao (Từ điển tiếng việt, 2008). 12 Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Pháp, con người có năng lực là con người có các nguồn lực (sự hiểu biết, kỹ năng thực hành, phương pháp luận, kinh nghiệm,.) và biết huy động các nguồn lực đó một cách hợp lý để thực hiện một công việc, giải quyết một vấn đề, hoàn thành một dự án thành công.
Như vậy, theo cách tiếp cận trên, có nguồn lực là điều kiện cần nhưng chưa đủ để làm việc theo năng lực. Một người biết làm việc theo năng lực nếu: - Biết tổng hợp và huy động toàn bộ nguồn lực cá nhân (thể lực, kiến thức, kỹ năng, khả năng tư duy, hành vi, thái độ cư xử,.) và từ môi trường xung quanh (công cụ làm việc, hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin, đồng nghiệp, chuyên gia,.) một cách thích hợp. - Quản lý, kiểm soát hoàn cảnh, bối cảnh thực hiện công việc. - Tạo ra một kết quả (sản phẩm hoặc dịch vụ) thỏa mãn một nhu cầu, mục đích đến cụ thể (khách hàng, người sử dụng,.
Như vậy, có thể hiểu năng lực là tổ hợp các thuộc tính của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt. Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động. Năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính các hoạt đông nghiệp vụ trong tổ chức (kinh nghiệm, trải nghiệm) 1. Năng lực thanh tra chuyên ngành Năng lực thanh tra chuyên ngành là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực thanh tra bao gồm các kỹ năng, kiến thức cần thiết cho từng vị trí công tác để thực hiện tốt công vụ hàng ngày (Lưu Xuân Mới, 1999).
Năng lực thanh tra chuyên ngành và năng lực chuyên môn của cán bộ thanh tra có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực thanh tra chuyên ngành là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu năng lực thanh tra càng phát triển thì càng dễ đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn của cán bộ thanh tra trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực thanh tra chuyên ngành của cán bộ thanh tra và CTV thanh tra. Bồi dưỡng năng lực thanh tra chuyên ngành cho cộng tác viên thanh tra giáo dục Bồi dưỡng năng lực thanh tra chuyên ngành cho cộng tác viên thanh tra giáo dục là hệ thống các hoạt động nâng cao kiến thức, năng lực cho đội ngũ cán bộ cộng tác viên thanh tra giúp CTV thanh tra phát huy tốt nghiệp vụ khi tham gia các đoàn thanh tra của Sở GD-ĐT; đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, góp phần nâng cao vị trí, vai trò công tác thanh tra trong hoạt động quản lý giáo dục cũng như công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện sự nghiệp GD-ĐT.