Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình nghiên cứu về bồi dưỡng cán bộ quản lý ở các nhà trường 1. Những công trình nghiên cứu ở ngoài nước Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, hướng khai thác khác nhau của các tác giả trên thế giới bàn về vấn đề bồi dưỡng, quản lý bồi dưỡng CBQL,.
Mỗi công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh của HĐBD, có công trình đề cập đến vấn đề liên quan đến hình thức bồi dưỡng, có công trình đề cập đến nội dung bồi dưỡng, có công trình đề cập đến biện pháp bồi dưỡng. Trong tác phẩm Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI [26], tác giả P. Drucker (1990) nhấn mạnh đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho CBQL. Ông cho rằng nhà trường trong bao nhiêu thế kỷ nay đã được tổ chức dựa trên giả định: Có một cách học đúng đắn và là cách học chung cho mọi người nhưng theo ông mỗi người có cách học riêng và ít ai giống ai.
Theo ông, công việc của người đứng đầu một đơn vị là rất phức tạp. Mỗi công việc mà họ thực hiện đều đòi hỏi điều kiện và tố chất khác nhau. Do vậy, không thể yêu cầu người quản lý hiểu đầy đủ mọi vấn đề trong thực tiễn công tác. Chính vì vậy, người quản lý phải biết tự mình trau dồi năng lực cho bản thân, đồng thời các cấp quản lý phải tổ chức bồi dưỡng cho họ.
Người CBQL phải biết nắm chắc thế mạnh của mình, luôn tự hoàn thiện phẩm chất, năng lực để xử lý có hiệu quả những vấn đề thực tiễn nảy sinh. Nghiên cứu của các tác giả trên thế giới khi bàn về hình thức bồi dưỡng luôn đề cao hình thức cá nhân hóa trong HĐBD. Có thể nói đây là hình thức bồi dưỡng hiệu quả và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Nghiên cứu của tác giả Jacques Delors (2002), Learning: The treasure within - Học tập: một kho báu tiềm ẩn [23].
Ông đã đề cập vấn đề bồi dưỡng và 14 phát triển chuyên môn trong bối cảnh mới. Ông cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề đào tạo bồi dưỡng phát triển năng lực giáo viên, Ông khẳng định: ngày nay thế giới nói chung đang phát triển nhanh đến nỗi giáo viên cũng như phần lớn những người làm các nghề khác, phải đối mặt với thực tế là kiến thức trang bị ban đầu không đủ để giúp họ làm việc trong quãng đời còn lại, họ cần phải cập nhật và nâng cao kiến thức và kỹ năng của mình trong suốt cuộc đời. Trong tác phẩm Để là nhà quản lý thành công [63], tác giả Richard S. Sloma (2011) cho rằng nhà trường là thiết chế sư phạm, song ngày nay nó cũng là thiết chế của đời sống kinh tế.
Nơi đây sản xuất ra “nhân cách - sức lao động kỹ thuật” cho nền kinh tế. Thực chất thì lĩnh vực giáo dục hiện nay đã được xếp vào khu vực kinh tế dịch vụ. Theo ông, người hiệu trưởng nhà trường vừa là nhà sư phạm, song còn phải là nhà kinh tế thạo việc, vừa phải đảm bảo tính toàn vẹn của quá trình giáo dục, đồng thời lại phải hài hòa về tư duy kinh tế để điều hành quá trình đào tạo. Ông đưa ra 70 lời bàn về năng lực quản lý và bồi dưỡng năng lực quản lý và có những lời khuyên cho người hiệu trưởng trong hoạt động thực tiễn để nâng cao năng lực quản lý như: - Bạn đang là hiệu trưởng một nhà trường (hay người kế nhiệm của chức vụ này).
Bạn hãy luôn luôn suy nghĩ cái khó không phải đạt được cho nỗ lực của mình, mà là đạt được hiệu quả theo sứ mệnh của mình. - Phải huy động năng lực vào việc duy trì và tăng cường mọi chức năng của tổ chức. Thiếu năng lực thì đi dần đến chỗ hỗn độn. Kết quả đạt được phụ thuộc vào môi trường hoạt động của tổ chức mà môi trường thì thay đổi.
Phải có tư duy quản lý sự thay đổi. Phải “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. “Bất biến” trong nhà trường là nhân cách người học, “vạn biến” là phương pháp giáo dục. - Quản lý là cuộc đọ sức của ý chí.
Kiên trì thì luôn luôn thắng. Lập kế hoạch kỹ lưỡng thì rất ít khi thất bại hoặc ít khi bị sai lầm. Hầu hết các thất bại trong nhà trýờng là do quản lý độc đoán mà không phát huy được “dân chủ” ở khâu vạch kế hoạch. 15 Tác giả Philip Yeo (2013), trong các tác phẩm của mình đã chỉ rõ người hiệu trưởng trong thời đại mới, nền kinh tế mới, nhà trường mới phải có năng lực quản lý đáp ứng những yêu cầu mới đó là: Năng lực xử lý thông tin, biến thông tin thành kiến thức; Kiến thức mạng lưới giao tiếp trong quản lý; Có năng lực huy động cộng đồng tham gia xây dựng nhà trường; Có phương pháp quản lý đặc biệt là những phương pháp gợi ý, thuyết phục, khêu gợi, khích lệ cổ vũ, động viên cán bộ TTCM của nhà trường; Có tư duy chiến lược tốt, tránh kiểu quản lý cứng nhắc, phải quản lý nhà trường như quản lý một thiết chế sư phạm vận động trong đổi mới; Cùng với những yêu cầu về năng lực cũng đòi hỏi phải có những phẩm chất, nhân cách như chân thực, giữ được sự chuẩn mực cao về tính trung thực và liêm khiết; không kiêu ngạo, khoe khoang; biết kiên nhẫn, lắng nghe.
Để có được những năng lực và phẩm chất cần thiết của người quản lý, ông đòi hỏi người quản lý nhà trường phải phấn đấu để có kiến thức tổng hợp trên nhiều mặt của quá trình giáo dục [88, tr. Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, hướng khai thác khác nhau của các tác giả trên thế giới bàn về vấn đề bồi dưỡng CBQL,. Mỗi công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh của HĐBD, có công trình đề cập đến vấn đề liên quan đến hình thức bồi dưỡng, có công trình đề cập đến nội dung bồi dưỡng, có công trình đề cập đến biện pháp bồi dưỡng. Khi bàn về hình thức, nội dung, phương pháp bồi dưỡng CBQL đã có một số công trình của các tác giả trên thế giới quan tâm, nghiên cứu.
Những kết quả nghiên cứu trên đây chỉ có giá trị tốt khi áp dụng vào những quốc gia có điều kiện phù hợp. Việc áp dụng những kết quả đó vào thực tiễn của Việt Nam vấn còn là vấn đề cần nghiên cứu, kế thừa và phát triển. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam Tác giả Nguyễn Phúc Châu (2010), trong cuốn sách Quản lý nhà trường [20] đã nghiên cứu tập trung vào các vấn đề đánh giá thực trạng đội ngũ CBQL thông qua những nghiên cứu trong ngành, điều tra tổng thể về giáo dục và phân tích nguồn nhân lực, mặt khác tác giả đã xác định quy trình 16 quản lý bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân sự trong nhà trường. Về quy trình quản lý đội ngũ trong một tổ chức bao gồm các bước: Bước 1: Kế hoạch hóa nguồn nhân lực; Bước 2: Tuyển mộ nhân sự; Bước 3: Lựa chọn qua việc thu thập nhận biết thông tin; Bước 4: Định hướng; Bước 5: Huấn luyện và phát triển nhân sự tuyển dụng; Bước 6: Sử dụng và tạo quyền lợi: Bước 7: Đánh giá thẩm định xác định vị trí việc làm; Bước 8: Đề bạt thuyên chuyển.
từ đó xây dựng giải pháp bồi dưỡng đội ngũ CBQL về các mặt: hình thức bồi dưỡng, kiểu loại chương trình, phương án tổ chức. Dự án SREM [2007], Bộ tài liệu tăng cường năng lực quản lý trường học [10], đã xác định, người quản lý cần có năng lực: Năng lực xác định tầm nhìn, mục tiêu, sứ mệnh của nhà trường; năng lực xây dựng chiến lược phát triển nhà trường; năng lực giám sát, đánh giá tiến độ thực hiện mục tiêu; năng lực xây dựng môi trường giáo dục theo định hướng kết quả; năng lực chỉ đạo chuyên môn; năng lực định hướng các hoạt động của nhà trường; năng lực xây dựng môi trường cộng tác trong nhà trường; năng lực tập trung vào các hoạt động hàng ngày và các hoạt động của học sinh; năng lực duy trì bầu không khí làm việc tích cực trong nhà trường; năng lực đảm bảo môi trường học tập an ninh, an toàn; năng lực tuyển chọn giáo viên, duy trì tập thể cán bộ giáo viên có chất lượng; năng lực giám sát đánh giá cán bộ giáo viên; năng lực khuyến khích giáo viên và những người khác làm lãnh đạo; năng lực quản lý tài chính, cơ sở vật chất; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin; hiểu biết xã hội. Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2018) với sách Quản lý giáo dục [42], đã luận giải khá rõ các vấn đề lý luận về QLGD. Vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, cuốn sách đã chỉ ra hiện trạng đội ngũ này và đưa ra giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trong bối cảnh hiện nay trên 3 vấn đề: số lượng, chất lượng, cơ cấu.
Đề tài khoa học cấp ngành Nghiên cứu giải pháp bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ QLGD cho CBQL giáo dục nhà trường quân đội [45], do tác giả 17 Mai Văn Hóa (2008), (chủ nhiệm đề tài) đã chỉ ra định hướng về chương trình nội dung, xác định các hình thức, phương pháp bồi dưỡng, sự kết hợp giữa bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng thường xuyên trong thực tiễn công tác với tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý của người CBQL trong các nhà trường. Tác giả Trần Thế Lưu (2015), trong Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông [56], đã tập trung nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường THCS đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu như: Xây dựng quy hoạch, tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng, luân chuyển CBQL; xây dựng bộ tiêu chuẩn CBQL trường THCS; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý, lãnh đạo cho đội ngũ CBQL; đổi mới công tác đánh giá đội ngũ CBQL; tạo động lực làm việc để phát huy vai trò của đội ngũ CBQL.