phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 http://www.vn/ Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dƣỡng kỹ năng TTVĐ cho đội ngũ cán bộ CĐCS Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động bồi dƣỡng kỹ năng TTVĐ cho đội ngũ cán bộ CĐCS tỉnh Phú Thọ Chƣơng 3. Biện pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng kỹ năng TTVĐ cho đội ngũ cán bộ CĐCS tỉnh Phú Thọ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG CHO CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 1.
Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu đề tài Một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lƣợng và hiệu quả của hoạt động của tổ chức Công đoàn và phong trào công nhân viên chức lao động chính là đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở. Việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp đã đƣợc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Viện nghiên cứu Công nhân và Công đoàn nghiên cứu, nhƣng những vấn đề nghiên cứu mới tập trung chủ yếu về công tác cán bộ công đoàn, vấn đề về đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao năng lực cán bộ công đoàn, về phát triển đội ngũ giảng viên kiêm chức, cơ chế chính sách trong công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ công đoàn, giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động của cán bộ công đoàn các cấp. - Viện Công nhân và Công đoàn: “Nâng cao năng lực cán bộ công đoàn trong giai đoạn mới” năm 2006. - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: “Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn” năm 2011.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết bàn về biện pháp nâng cao chất lƣợng cán bộ cơ sở, gần đây có một số đề tài, luận văn thạc sỹ nghiên cứu, có thể đƣa ra một số công trình, đề tài và bài viết tiêu biểu của các tác giả có liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn này - Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sâm: Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 http://www.vn/ - Dƣơng Xuân Ngọc: Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia HN. 2004 - Dƣơng Thị Thanh Huệ - Luận văn thạc sĩ QLGD “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đoàn chuyên trách tỉnh Nam Định” - Đại học Giáo dục, năm 2008. - Nguyễn Thanh Hoa – Luận văn thạc sĩ “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm BDCT huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh” năm 2012.
- Lê Khắc Á - Luận văn thạc sỹ “Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng công chức cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giai đoạn hiện nay”. Học viện Hành chính, 2011. - Trần Thanh Thủy – Luận văn thạc sỹ “Quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng công tác xã hội cho cán bộ Hội cơ sở tỉnh Quảng Ninh” Đại học sƣ phạm Thái Nguyên, 2013. - (…) Có thể nói, các công trình đề tài, luận văn và các bài viết trên đã đề cập nhiều đến vấn đề xây dựng, đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ.
Tuy nhiên, trên thực tế địa bàn tỉnh Phú Thọ, công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ công đoàn đã đƣợc các cấp công đoàn quan tâm tổ chức thƣờng xuyên, nhƣng việc quản lý hoạt động bồi dƣỡng còn nhiều bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế đề ra, do đó kỹ năng hoạt động của cán bộ công đoàn cơ sở còn nhiều hạn chế, mà đến thời điểm hiện tại, chƣa có công trình nào nghiên cứu đến vấn đề quản lý hoạt động bồi dƣỡng nói chung và quản lý hoạt động bồi dƣỡng kỹ năng TTVĐ cho đội ngũ cán bộ CĐCS nói riêng ở tỉnh Phú Thọ. Do đó, việc nghiên cứu Quản lý hoạt động bồi dƣỡng kỹ năng TTVĐ cho đội ngũ cán bộ CĐCS tỉnh Phú Thọ có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn đáp ứng yêu cầu nhiệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 http://www.vn/ vụ nâng cao chất lƣợng và hiệu quả quản lý hoạt động đội ngũ cán bộ công đoàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Cán bộ công đoàn cơ sở 1.Cán bộ công đoàn Cán bộ công đoàn (CBCĐ) là những ngƣời “nòng cốt” trong các hoạt động công đoàn, đảm nhiệm các chức danh từ tổ phó tổ công đoàn trở lên, thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn; đƣợc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định, công nhận, bổ nhiệm vào các chức danh CBCĐ hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn.
Điều lệ công đoàn Việt Nam khóa XI [2013] quy định về CBCĐ gồm CBCĐ chuyên trách và CBCĐ không chuyên trách. CBCĐ chuyên trách là ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm để đảm nhiệm công việc thƣờng xuyên trong tổ chức Công đoàn, hoặc đƣợc đại hội, hội nghị công đoàn các cấp bầu ra, và đƣợc cấp có thẩm quyền của công đoàn bổ nhiệm, chỉ định. CBCĐ không chuyên trách là ngƣời làm việc kiêm nhiệm, đƣợc đại hội Công đoàn và hội nghị công đoàn các cấp bầu ra hoặc đƣợc Ban Chấp hành công đoàn chỉ định bổ nhiệm vào các chức danh từ tổ phó tổ công đoàn trở lên và đƣợc cấp có thẩm quyền của công đoàn công nhận. Cán bộ công đoàn cơ sở Là những ngƣời làm công tác CĐCS tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, xã phƣờng, thị trấn đƣợc đại hội hoặc hội nghị công đoàn các cấp bầu ra và đƣợc cấp có thẩm quyền của công đoàn công nhận hoặc chỉ định.
Bao gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch công đoàn cơ sở, công đoàn bộ phận, tổ trƣởng, tổ phó tổ công đoàn. Quản lý giáo dục 1. Quản lý và các chức năng của quản lý Quản lý là một hiện tƣợng xã hội, xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài ngƣời. Nhu cầu quản lý ngày càng phát triển gắn với tiến trình phát triển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.vn/ của nhân loại, trở thành quan điểm tƣ tƣởng, quan trọng.Mác đã viết “Tất cả mọi lao động, xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo, để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [10, tr480]. Khái niệm quản lý đƣợc tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau. Theo cách tiếp cận hệ thống, thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con ngƣời trong quá trình sản xuất để đạt đƣợc mục đích đã định. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (Khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [20]; Còn theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành thành tựu của xã hội” [17, tr10] Tóm lại, có nhiều định nghĩa khác nhau song có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra.
Các chức năng quản lý: Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có mục tiêu xác định. Quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, trong các chức năng có tính độc lập tƣơng đối, nhƣng chúng liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán. Chức năng quản lý có chức năng cơ bản, có chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhƣng về cơ bản các tác giả đều thống nhất 4 chức năng cơ bản của Quản lý: Kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra; Chức năng Kế hoạch: Bản chất của khái niệm kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và con đƣờng, biện pháp, cách thức, điều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.vn/ kiện cơ sở vật chất để đạt đƣợc mục tiêu, mục đích đó.
Trong tất cả các chức năng quản lý, chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác. Đây đƣợc coi là chức năng chỉ lối, dẫn đƣờng cho các chức năng chỉ đạo, kiểm tra. Trong quản lý giáo dục, xác định chức năng kế hoạch có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại, vận hành, phát triển của công tác đào tạo, bồi dƣỡng. Chức năng Tổ chức: là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng nhƣ một cơ thể thống nhất.
Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng, cho những động lực khác, tổ chức không tốt sẽ triệt tiêu động lực và làm giảm sút hiệu quả quản lý. Trong quản lý giáo dục điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ đƣợc vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận, đảm bảo mối liên hệ, liên kết giữa các cá nhân, các thành viên, các bộ phận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ. Chức năng Chỉ đạo: Xem chỉ đạo là một công việc của một “nhạc trƣởng”, ngƣời lãnh đạo dẫn dắt, hƣớng dẫn, điều chỉnh mọi liên kết, mọi hoạt động của tổ chức trong đơn vị để hoàn thành những mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến hành vi và thái độ của con ngƣời (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Chức năng Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng trong hoạt động quản lý.