Chương 1: Cơ sở lý luận của dạy học kết hợp (Blended learning) chủ đề Thống kê lớp 10 theo hướng phát triển năng lực công nghệ thông tin của học sinh. Chương 2: Thiết kế mô hình dạy học kết hợp chủ đề Thống kê lớp 10 theo hướng phát triển năng lực công nghệ thông tin của học sinh. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm tại trường trung học phổ thông Lục Ngạn số 4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC KẾT HỢP (BLENDED LEARNING) CHỦ ĐỀ THỐNG KÊ LỚP 10 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA HỌC SINH 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về dạy học kết hợp 1. Trên thế giới Về mặt ngữ nghĩa, “Blended” nhằm chỉ sự kết hợp một cách bền vững giữa hai hoặc nhiều yếu tố với nhau. Trong giáo dục, “Blended learning” thường được hiểu là “cách thức học tập một chủ đề có kết hợp giữa việc được dạy trên lớp và sử dụng các phương tiện công nghệ khác, bao gồm học tập qua Internet”, là một phương pháp giảng dạy kết hợp giữa học trực tuyến và học truyền thống.
Phương pháp này đã thu hút sự chú ý rộng rãi trên toàn cầu do khả năng kết hợp những ưu điểm của cả hai phương pháp để tối ưu hóa quá trình học tập. Từ năm 2006 đến nay, Blended learning được hiểu là một sự kết hợp dạy học mặt giáp mặt(face to face) và dạy học trên nền tảng công nghệ trung gian (Technology mediated), đã thu hút được sự chú ý đáng kể trong nghiên cứu giáo dục (Curtis J. Dạy học kết hợp đã được nhận thấy hiệu quả hơn các khóa học trực tuyến hoàn toàn vì nó có thể tạo ra mối quan hệ tích cực giữa môi trường trực tiếp và trực tuyến (Hopper, 2003). Những tác động tích cực của việc dạy học kết hợp đến kết quả học tập, giảm tỷ lệ bỏ học và sự hài lòng của người học (Dziuban, Hartman & Moskal, 2004).
Trên toàn thế giới, học tập kết hợp Blended learning đang mở rộng ở Mỹ, nhất là Canada, New Zealand, Hàn Quốc và hầu hết các quốc gia Châu Âu (Babour và cộng sự, 2011). (Drysdale và cộng sự, 2012) đã đề xuất các xu hướng nghiên cứu dạy học kết hợp và cung cấp những hiểu biết sâu sắc về các hướng nghiên cứu dạy học kết hợp trong tương lai. Trong nghiên cứu của (Basham et al; 2020) dạy học kết hợp đã giải quyết khó 6 khăn trong bối cảnh đại dịch covid -19, thông qua hình thức học tập trực tuyến hoặc trong nghiên cứu của Graham (2013) dạy học kết hợp đã thúc đẩy kỹ năng công nghệ thông tin người học, giúp linh hoạt hơn cho người học trong bối cảnh dịch covid -19 Nhiều nghiên cứu khác nhau đã điều tra việc dạy học kết hợp vào thực tiễn giảng dạy trong giáo dục toán học (Balentyne & Varga, 2017) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thành tích của học sinh và thái độ của các em trong một khóa học toán tổng hợp theo nhịp độ riêng với 23 học sinh lớp 8 môn Đại số và Hình học. Ngoài ra, (Kashefi và cộng sự, 2011) đã nghiên cứu nhằm hỗ trợ tư duy toán học cho học sinh lớp 12 trong việc học hàm hai biến thông qua dạy học kết hợp.
Mô hình dạy học kết hợp đã và đang được áp dụng trên thế giới ở nhiều lĩnh vực, trong đó có các chủ đề toán học khác nhau với các cấp học khác nhau. Ở Việt Nam Tại Việt Nam, cùng với xu hướng hội nhập và nhu cầu phát triển đất nước, việc triển khai dạy học kết hợp đã và đang từng bước phát triển phù hợp với bối cảnh kinh tế, giáo dục của địa phương và các bộ ngành. Theo tác giả Vũ Thái Giang và Nguyễn Hoài Nam(2022), dạy học kết hợp được xem là một dạng thức học tập mặt đối mặt và học tập trực tuyến. Trong Luật Công nghệ thông tin 2006 đã nêu ra: Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, cho phép ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin vào trong giáo dục và đào tạo thuận lợi.
Một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy việc áp dụng mô hình dạy học kết hợp vào các lĩnh vực khác nhau. Tác giả Lê Thị Phượng và các cộng sự (2021) nghiên cứu thử nghiệm về mô hình dạy học tích hợp tại trường THPT; Mô hình dạy học kết hợp - Một trong những giải pháp tối ưu để đổi mới phương pháp dạy học khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018; tác giả Nguyễn Thị Hảo (2022) nghiên cứu thiết kế kế hoạch bài dạy trong dạy học kết hợp trực tuyến và trực tiếp môn Ngữ Văn cấp Trung học cơ sở theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018. 7 Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiến và các cộng sự (2020) nghiên cứu sử dụng hình thức dạy học kết hợp (Blended learning) là một xu hướng dạy học kết hợp ứng dụng công nghệ vào hoạt động dạy học đầu thế kỷ XXI tại các trường Đại học, các tác giả nghiên cứu cũng chỉ ra sự đa dạng của mô hình tổ chức dạy học có thể vận dụng vào quá trình dạy học bao gồm: mô hình xoay vòng, mô hình linh hoạt, mô hình thiết lập sẵn, mô hình giàu tính ảo. Ngoài ra, đối với hình thức dạy học này đòi hỏi ngoài các thành tố dạy và học thì điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động dạy học, giúp giáo viên tổ chức dạy học linh hoạt thông qua mạng internet, thông qua hoạt động tổ chức mặt đối mặt tại lớp học.
Nghiên cứu của tác giả Đinh Hồng Vân (2022) “Dạy học kết hợp phát huy tính từ chủ”. Trong nghiên cứu tác giả đã nhận mạnh tính tự chủ của người học được phát huy thông qua hình thức dạy học này, ở các nước đang phát triển họ ưu tiên sử dụng hình thức này, với hình thức này có thể hỗ trợ người học trong bối cảnh dịch bệnh thông qua học trực tuyến; Trong nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Trang (2020) hình thức dạy học này mang tính mặt giáp mặt trong dạy học, một hình học tập mới được mở rộng nâng cao năng lực người học ở khía cạnh kiến thức và sử dụng công nghệ. Những nghiên cứu trên đã hệ thống hóa lý thuyết và bước đầu xây dựng quy trình vận dụng mô hình dạy học kết hợp vào các môn khoa học cơ bản. Tuy nhiên, qua nghiên cứu tổng quan tài liệu, chúng tôi nhận thấy hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu vào cụ thể hóa việc vận dụng mô hình dạy học kết hợp ở cấp trung học phổ thông, cụ thể là chủ đề Thống kê lớp 10.
Các nghiên cứu về dạy học Thống kê trung học phổ thông 1. Trên thế giới Thống kê là một môn học liên quan đến các cách suy nghĩ để giải quyết sự không chắc chắn và hiểu bản chất của kết quả suy luận dựa trên lý thuyết lấy mẫu theo như Hernández và các cộng sự (2021). Một trong những vấn đề khó 8 khăn mà việc học thống kê có thể gây ra cho học sinh không thuộc lĩnh vực chuyên ngành STEM, những người “không có nền tảng toán học vững chắc và thường tránh các hoạt động liên quan đến con số” theo như nghiên cứu của tác giả Vargas và cộng sự (2019), và điều này thường khiến học sinh cảm thấy thất vọng và thiếu hứng thú hoặc động lực để học thống kê. Có bằng chứng đáng kể cho thấy cả giáo viên toán học trước khi vào nghề và đang trong nghề họ cũng gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng các công cụ giáo dục dạy học phần thống kê, lý luận và tư duy liên quan đến thống kê (Batanero & Díaz, 2010) (Burrill & Biehler, 2011) ( Lovett & Lee, 2017).
Một nghiên cứu thăm dò (Gil, 2008) đã được tiến hành trong một lớp học với 21 học sinh từ năm thứ ba của một trường trung học công lập ở tiểu bang cực nam Rio Grande do Sul, Brazil. Thông qua các cuộc điều tra được áp dụng trước và sau các lớp học thống kê và thông qua một số bài kiểm tra, người ta đã cố gắng đánh giá phương pháp luận được sử dụng trong giảng dạy thống kê mô tả. Một số dữ liệu này đã được phân tích bằng cách sử dụng phương pháp phân tích nội dung, là một nhóm các kỹ thuật để phân tích thông tin, nhằm mô tả và đưa ra suy luận về nội dung của các thông điệp (Bardin, 1977). Theo các tham số chương trình giảng dạy quốc gia (NCP+) về giảng dạy trung học (BRASIL, 2002, tr.
126) “Thống kê và Xác suất nên được coi là một nhóm các ý tưởng và quy trình cho phép áp dụng Toán học vào các môn học của thế giới hiện thực, đặc biệt là những môn học đến từ các lĩnh vực khác”. Ở Việt Nam Theo như nghiên cứu của tác giả Đỗ Đức Thái và các cộng sự (2019) đề cập đến dạy học thống kê theo hướng tiếp cận phát triển năng lực cho học sinh, giáo viên áp dụng phương pháp dạy học tích cực, độc lập, sáng tạo, thông qua quá trình hợp tác học tập giữa bạn bè, sự hướng dẫn của giáo viên, nhằm giúp các em phát triển năng lực toán học. Theo quy định của Bộ giáo dục đào tạo (2018) trong chủ đề thống kê 9 môn toán phổ thông đã nêu rõ nội dung của chủ đề thống kê được phân thành hai nhóm “Thu thập và tổ chức dữ liệu” và “Phân tích và xử lý dữ liệu” thông qua quá trình thu thập, phân loại, biểu diễn, phân tích và xử lý số liệu; các công cụ được sử dụng trong hoạt động thống kê, mức độ phân tán của dữ liệu trong thống kê theo mẫu số liệu có ghép nhóm và không có ghép nhóm, các bài toán thống kê mang tính thực tiễn. Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 chủ đề thống kê được phân bổ đều từ lớp 10 đến lớp 12 nhằm đảo bảo sự phát triển phù hợp theo năng lực người học theo hướng giải quyết vấn đề, người học có thể nêu vấn đề, lập luận vấn đề, giải quyết vấn đề thông qua mô hình toán học được thiết lập, cho phép người dạy và người học được phép sử dụng công cụ toán học hỗ trợ vào quá trình dạy và học, việc vận dụng các phương pháp kỹ thuật như máy tính có kết nối internet… là một trong những phương pháp dạy học tích cực được khuyến khích trong nhà trường.
Theo nghiên cứu của (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019) năng lực được hình thành thông qua các hoạt động có tính thực tiễn.