Chương 1 NHUNG CO SO LY THUYET LIEN QUAN DEN DE TAIL 1,1. Biểu trưng và những khái iệm liên quan Ngôn ngữ là một hệ thông tin hiệu đặc bi và quan trọng bậc nhất của loài người, vừa là phương tiện tư duy vừa có chức giao tiếp xã hội. Trong ngôn ngữ học có khía cạnh tâm lý học, ngôn ngữ có vai trò nhiễu nhân tổ: xã hội, tâm lý, dân tộc. Qua nghiên cửu ngôn ngữ tâm lý sẽ thấy được đặc điểm tâm lý của công đồng người bản ngữ, vả qua đó sẽ thấy được trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ tự nhiên đều hâm chứa một cách nhìn thế giới của mỗi cộng đẳng bán ngữ đó đối với sự vật, hiện tượng xung quanh họ.
Như vậy có thể nói, ngôn ngữ chính là linh hôn của dân tộc. Qua ngôn ngữ, mỗi công đồng bản ngữ thể hiện được thế giới nội tâm của minh; đồng thời, thế giới nội tâm, lối tư duy cũng lâm ngôn ngữ phát triển. Sự khác nhau về thể giới quan vả văn hóa dân tộc, vùng miền đã tạo. nên “bức tranh ngôn ngữ thể gi đầy mâu sắc.
Tuy nhiên, nếu chỉ xét ngôn ngữ ở bể mặt ngữ nghĩa đơn thuần thôi chưa đù ma cần trí nhân nó ớ tẳng ý nghĩa sâu hơn thông qua các nghĩa biểu trưng. Khái niệm biểu trưng Biểu trưng (symbole; tiếng Pháp và symbol; tiếng Anh) là một khái niệm khá quen thuộc và được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, Nó có nguồn gốc từ tiếng Latin (symbolus) nghĩa là dấu hiệu Cũng có thuyết cho rằng chit symbol bit nguồn từ động từ Hy Lạp “Symballo” có nghĩa là “ném vào một vị trí", "liên kết”, “suy nghĩ vẻ", “thoả thuận”, “ước hẹn” v. Ở Việt Nam, thuật ngữ nảy được dịch la biễu trưng hoặc biểu tượng. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Nớ cho tầng: "8iểu trưng và biểu tượng không đồng nhất.
Nghĩa biểu trưng mang tỉnh lâm thời, nghĩa là ở những ngữ cảnh khác nhau nỗ có thế có nghĩa khác nhau; còn biểu tượng có tỉnh cô định". Chùng tôi đồng tình với quan niệm. này, khi cho rằng biểu trưng vả biểu tượng về cơ bản có sự khác nhau. Nói đến nghĩa biểu trưng là nói đến nghĩa ngữ cảnh, có tỉnh chất lâm thời, và tất nhiên, một hình ảnh có thể dùng làm biểu trưng cho một số nét nghĩa nhất 1s định; trong khi, nói đến biểu tượng là nói đến nghĩa cỗ định, một cách hiểu thắng.
Chẳng hạn nói hình ảnh “con cò” là biểu tượng cho người nông dân, "hoa" là biểu tương cho người con gái. Bởi khi những hình ảnh này khi xuất hiện một minh, chúng ta vẫn cỏ thể hiểu được ý nghĩa của chủng. Mặt khác, chúng ta không thể nói hình ảnh “ánh trăng” là biểu tượng cho nỗi buồn, hình ảnh "nủi non" là biểu tượng cho sự hiểm trở. mả chỉ có thể gọi chúng là những biểu trưng.
Bởi hình ảnh “ảnh trăng” bên cạnh có nghĩa biểu trưng là nỗi budn, trong một số trường hợp cỏn biểu trưng cho người con gái, cho thời gian, cho không gian bày tỏ tỉnh yêu. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chí khảo sát các hình ảnh tự nhiên và vật thể nhân tạo với tư cách là các biểu trưng. Tuy nhiên, có đối chỗ vì tôn trọng “chữ dùng” của tác giả, chúng tôi vẫn giữ nguyên từ "biểu tượng” nhưng nó được hiểu là biểu trưng. Biểu trưng có hai mặt ~ Cái biểu trưng: được biểu hiện ra bằng hình ảnh, âm thanh, hình khối, mâu sắc.
~ Cái được biểu trưng: gợi lên một cái gì đó, nội dung ý nghĩa thông qua sự liên tưởng. Vẻ thuật ngữ biểu trưng, tắc giá “?ừ điển biểu tượng văn hóa thể giời" cho biết lịch sử của nỏ như sau: “Khởi nguyên. biểu tương (symbole) là một vật được cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim loại. Hai người mỗi bên giữ một phẩn, chứ và khách.
người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài. Sau này ráp hai mảnh lại với nhau, họ sẽ nhận ra mỗi thân tình xưa, món nợ cũ, tình bạn ngày trước. Ở người Hy Lạp cổ đại, biểu tượng còn là những dấu hiệu để cha mẹ nhận ra con cải bị lưu lạc. Bằng lối loại suọ:, từ được mở.
chỉ các tẩm thẻ, cầm chúng thỉ có thể lĩnh lương, phụ cấp hay thực phẩm; chỉ mọi đẫu hiệu tập hợp, hay các quy ước. Biểu tượng chỉa ra và kết hợp lại với nhau, nỏ chứa haiý tưởng phân ly và tải hợp: nó gợi lên ý một công đẳng. đã bị chia cất và có thể tái hình thành. Mọi biểu tượng đều chứa đựng đấu hiệu bị đập vô: ÿ nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cải vừa là gãy vỡ vừa là nỗi kết những phần của nỏ đã bị vỡ ra”.
4, tr 23] 16 Với tư cách là một hệ thông ký hiệu, ngôn ngữ cũng là những biểu trưng. Chất liệu biểu trưng là cái nằm bên ngoài; vật mà nỏ biểu trưng lại nằm sâu trong. Ngôn ngữ biểu trưng là ngôn ngữ dùng đẻ diễn đạt kinh nghiệm nội tại; nó hẳu như lã sự thể nghiệm cám quan đó; nó lã một vật não đó do ảnh hưởng của thể giới vật lý tác đông đến chúng ta. Ngôn ngữ biểu trưng lã một loại ngôn ngữ mà thé giới bên ngoài là biểu trưng cho thể giới nội tại; là biểu trưng cho linh hỗn và tâm linh, Có nhiều quan niệm khác nhau về biểu trưng.
Theo Erich Fromm biểu trưng có ba loại (dịch giả dùng chữ “tượng trưng”); tượng trưng mang tính chất tập quán; tượng trưng mang tính chất ngẫu nhiên và tượng trưng phổ biến. đó, tượng trưng mang tỉnh chất tập quán lä ngôn ngữ sử dụng hàng ngày. Giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng của loại tượng trưng nảy không có mồi quan hệ nội tại. Tượng trưng mang tính chất ngẫu nhiên cũng thể.
Trong khi đó, tượng trưng mang tỉnh chất phổ biến thì giữa cái tượng trưng vả cái mà nó đại diện có. mối quan hệ nội tại. Tượng trưng phố biến lá loại tượng trưng mả quan hệ giữa. cái biểu trưng vả cái được biểu trưng nhất trí với nhau trong nội tại chữ không, phái ngoại tại.
Tượng trưng phố biến bám rễ sầu trong thân thể, ÿ thức và tâm linh của mỗi người nó không giới hạn một cá nhân hay nhóm người nào. Tuy nhiên có điều cẫn phải thấy rằng, trong các nền văn hỏa khác nhau, một sỏ tượng trưng có ý nghĩa khác nhau. (Dẫn theo [40, tr-43-44)) Còn Jacques Pohl thi cho ring: “Biéu trưng nói chưng là một vật kích thích được liên kế: với những đổi tượng nào đó một cách võ đoán” (Dẫn theo (40, tr45]) Trong quyên *Ý nghĩa vẻ cấu trúc ngôn ngữ”, Wallace L. Chafk cho rằng: “Biểu trưng là khi một cải gì đó trong thể giới tr tưởng và khái niệm biển thành một cải gì đó có khả năng trở thành cải cầu bắc qua cái vực ngăn cách vật phát vd vat shu” (Din theo [40; tr.45]) Khi đề cập đến biểu trưng, các nhà nghiên cứu của thể giới và Việt Nam.
còn dùng khái niệm "biểu tượng” vả cũng đã đưa ra nhiều cách hiểu về thuật ngữ này. Jean Chevalier và Alain Gheerbrant cho rằng: “7 bản chát của biểu tượng, M nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm. Nó giống như mũi tên bay mả không bay đứng im mà biển áo, hiển nhiễn mà không nằm bắt được. Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra một hay nhiều ý nghĩa của một biểu tượng".
Hay nói như Georges Gurviteh: "Cac biéu tượng tiết lộ mã chè giấu và ch giấu mà tiết lổ" [4, tr 14]- ‘Theo quan niệm của Ereud: *8iễu tượng diễn đạt một cách gián tiếp. bỏng giỏ và ít nhiễu khó nhận ra niễm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mỗi liên kết thẳng nhất nội dung rõ rệt của một hành vì, một tự tưởng. mọi lời nói với ÿ nghĩa tiém dn ctia ching” (4, 24] Đối với C.
Jung, ông cho rằng: “Biểu tượng không phải lả mớt phủng dụ, cũng chẳng phải một dẫu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ánh thích hợp để chí ra đúng hơn cả cải bản chất, tạ mơ hỗ nghí hoặc của tâm lính". |4, tr24] Nói như vậy, bản chất của biểu trưng là khó xác định, sự hiểu biết về nó đương nhiên còn tủy thuộc vảo sự từng trải và kinh nghiệm vốn có của mỗi cả nhân cũng như trình độ nhận thức của từng người. Không những thế, việc “giải mã” tìm ra ý nghĩa của biểu trưng cũng phải tỉnh đến thói quen, phong tục, tập. quán của các nền văn hoa trong từng cộng đồng dân tộc khác nhau.
Điễu bi an vẫn luôn còn nguyên ven và mơ hỗ về mặt ý nghĩa nếu như biêu trưng chưa được “giải mã”. Một biểu trưng thường có nhiễu nghĩa và ngược lại một ý nghĩa lại có nhiều biểu trưng cùng biểu thị. Vậy, có thể hiểu biểu trưng là những hình ảnh tượng trưng được phô bảy khiến người ta có thể cảm nhận một giá trị trừu xuất nảo đó đang tiém an trong lòng cúa nó. Õ Việt Nam, khi để cập đến biểu trưng, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiễu cách hiểu về thuật ngữ này.
Nguyễn Đức Tôn có quan niệm như sau: “Biểu trưng là lấy một sự vật và hiện tượng nào đỏ để biểu hiện có tính chất tượng trưng trúc lệ một cái gì đó mang tỉnh trừu tượng. Đó là một hiện tượng khả phổ biển và quen thuộc đối với các dân tộc và phần ảnh quan niệm ngây thơ dân gian 18 của một tộc người khi được cổ định hỏa trong ngôn ngữ. Khi một sự vật, một hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó được gợi lên trong ý thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bên vững".19 Hoảng Trinh cũng nêu lên quan niệm của minh về biểu trưng như sau: *Biểu trưng là một sự vật mang tính chất thông điệp được dùng để chỉ ra một cải ở hên ngoài, theo một quan hệ tước lê, tức v đoán (không tắt yếu) giữa sự vật trong thông điệp và sự vật bên ngoài" (53. Và ông khẳng định; “rong.
văn học, biểu trưng là một loại ký hiệu mang tính chất một hình thể từ ngữ cũng như ẩn dụ, hoàn dụ, phúng dụ. Cũng bản về lý thuyết biểu trưng (tác giả dùng từ "biểu tượng"), Phạm Thu Yến một mặt phân biệt giữa biểu tượng và ấn dụ, một mật thừa nhận “út nhiềm sự phản định ranh giới giữa biểu tượng và ấn dụ, biểu tượng và so sánh cũng có 3ý nghĩa nương đối. không thể có sự phân định hoàn toàn rành mạch giữa một số biểu tượng và ẩn dụ.