Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài KNHT có vai trò rất quan trọng trong xã hội loài người, nó giúp cho con người hoạt động cùng nhau một cách dễ dàng và đạt dược hiệu quả công việc chung một cách tốt nhất. Nhận thức được vai trò của KNHT nên từ lâu các nhà khoa học trên thế giới và trong nước cũng đã nghiên cứ về vấn đề này nhằm phát triển toàn diện nhân cách của con người nói chung và trẻ mầm non nói riêng.
KNHT không phải là một thuật ngữ mới mẻ, nó đã xuất hiện từ cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX ở các nước phương Tây, đó chính là việc dạy học hợp tác. Các tác giả như linh mục A.Bel và các thầy giáo D.Lancasto, Giarard (năm 1789) đã đưa các hình thức dạy học tương trợ và đây có thể coi là hình thức đầu tiên cơ bản nhất của KNHT. Với hình thức dạy học này, giáo viên tạo cơ hội cho người học được chia thành từng nhóm hoạt động, trò chuyện cùng nhau, chia sẻ, giúp đỡ nhau tìm hiểu, khám phá đối tượng nhận thức nhằm hình thành và phát triển KNHT cho người học đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học.[19] Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, nổi lên trào lưu tư tưởng dân chủ và tiến bộ. Tiêu biểu cho hệ tư tưởng này là nhà GD nổi tiếng Johns Dewey (người Mỹ) và Arthur Dobrin (người Mỹ) - nhà luân lý học và chuyên gia nổi tiếng về lĩnh vực GD đạo đức.
Hai ông cho rằng muốn học cách để cùng chung sống dân chủ là sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Sự hợp tác của người học cần phải dựa trên hai nguyên tắc cơ bản. Đó là đảm bảo tính liên tục và động tác qua lại. Xuất phát từ ý tưởng đó J.Dewey đã xây dựng “nhà trường tích cực”.
Ở đó ông đã phát triển việc hợp tác của người học, tạo nên môi trường làm việc chung để cho học sinh có cơ hội trao đổi kinh nghiệm thực hành, phát triển lí luận và khả năng trừu tượng hóa. Còn Arthur Dobrin cho rằng chúng ta đều mong muốn trở thành một thành viên trong tập thể, bởi vì chỉ có thông qua sự hợp tác và nỗ lực chung giữa con người với nhau mới có thể khiến cho người ta chiến thắng hoàn cảnh bên ngoài. 5 Những năm đầu thế kỉ XX, lĩnh vực hợp tác thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như là nhà giáo dục R.Cousinet, Dottren, Eleskonler. Karl Roger… Vẫn dựa trên những quan điểm đầu tiên về hợp tác của linh mục A.Bel và các thầy giáo D.Lancasto, Girard nhưng các ông chú ý nhiều hơn đến việc hình thành KNHT cho người học bằng các phương pháp, biện pháp dạy học thích hợp và nêu lên một số đặc điểm về KNHT.
Theo các ông, người học được tự do chọn bạn để học nhóm. Học tập theo nhóm tránh được sự lười biếng vì người học sẽ hổ thẹn với bạn khi bỏ dở công việc hay khi không biết làm việc. Từ đó, giúp cho người học có những nhận định xã hội, người học sẽ biết cách đánh giá, nhận xét bạn mình cũng như là bản thân mình và sẽ tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm xã hội cho bản thân. Vào những thập niên 30 – 40 của thế kỉ XX, việc học tập hợp tác theo nhóm đã được áp dụng rộng rãi tại Mỹ và các nước phương Tây.
Các nhà nghiên cứu thời kì này không chỉ quan tâm đến hệ thống chương trình, bài giảng trên lớp, hoạt động hướng dẫn nhóm mà còn chú ý đến sự phụ thuộc của hình thức học tập theo nhóm trong các điều kiện khác nhau. Các nhà giáo dục như Eleskonler, Morton Deutsch, Karl Roger và Muzafer Sherif chú trọng đến việc thiết lập một hoàn cảnh sư phạm, trong đó có những hoạt động tự do đòi hỏi học sinh phải hợp tác nhóm với nhau và đề ra các tình huống hợp tác và tranh đua. Khi xem xét khía cạnh xã hội hóa diễn ra trong nhóm, thì các ông đã tìm thấy tính chất độc đáo của hoạt động chung, đó là học sinh có nhiều cơ hội lên ý tưởng, suy nghĩ của mình với người khác và ngược lại, chính điều này đã làm cho các hoạt động trong nhóm diễn ra sôi nổi và đạt hiệu quả cao. Theo Karl Roger, quá trình dạy học cần chú ý hình thành cho học sinh một số năng lực nhận thức và KNHT giúp cho các em có khả năng xử lí và sử dụng thông tin trong quá trình học.
Còn Muzafer Sherif đã tiến hành những nghiên cứu về KNHT tại ba trại hè. Ở đó, ông đã thiết kế những sự tranh đua theo nhóm hết sức trôi nổi và nghiên cứu sự nỗ lực của tất cả các thành viên trong nhóm.[20] Nhìn chung, nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã cho thấy được vai trò quan trọng của việc hợp tác trong học tập cũng như sinh hoạt, họ đề cao vai trò của sự hợp tác khi hoạt động cùng nhau. Bên cạnh đó, các tác giả này cũng đề ra một số cách thức để hợp tác và hoạt động cùng nhau trở nên tích cực, hiệu 6 quả như là hoạt động nhóm, thi đua… KNHT của trẻ nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng được hình thành thông qua nhiều con đường khác nhau, nhưng các nhà tâm lí học, giáo dục học đã chỉ ra rằng KNHT ở trẻ mẫu giáo được biểu hiện rõ rệt nhất thông qua họa động vui chơi, vì đây chính là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non. Trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo có rất nhiều loại trò chơi, mỗi loại có một ưu thế riêng để hình thành KNHT cho trẻ.
Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động vui chơi đối với việc hình KNHT cho trẻ nên vấn đề lí luận về hoạt động vui chơi, trò chơi của trẻ mầm non và việc tổ chức cho trẻ chơi nhằm phát triển nhân cách trẻ em nói chung và hình thành KNHT cho trẻ mẫu giáo nói riêng được các nhà sư phạm trên thế giới đặc biệt quan tâm.Vưgotxki khi nói về trò chơi của trẻ, ông nhấn mạnh sự cần thiết của việc thỏa thuận và hợp tác với bạn trong trò chơi. Ông cho rằng chính sự hợp tác đã thúc đẩy nhận thức của trẻ vượt qua ngoài phạm vi chức năng phát triển bình thường của trẻ. Theo ông, tất cả trò chơi đều có luật và việc chấp hành đúng luật chơi là điều kiện để duy trì trò chơi, dựa vào luật chơi để đánh giá và điều chỉnh hành vi của các vai chơi. Qua đó trẻ hiểu được các hành vi xã hội và phát triển được năng lực thỏa thuận luật chơi trước khi chơi.
Đó chính là điều kiện để thúc đẩy trẻ hợp tác với nhau. Các nhà giáo dục như K.Chikhiepva đã có cùng quan điểm về vai trò của trò chơi đối với việc hình thành xã hội trẻ em và hoạt động vui chơi chính là cơ hội thuận lợi cho trẻ thể hiện KNHT. Chính trong quá trình chơi, nhân cách trẻ được hình thành và phát triển. Đặc biệt những trò chơi tập thể đã tạo điều kiện hình thành và phát triển các mối quan hệ xã hội đầu tiên của trẻ, đồng thời trẻ dễ dàng lĩnh hội được các kinh nghiệm văn hóa xã hội.
Trò chơi là hình thức tổ chức cuộc sống của trẻ, là phương tiện hình thành “xã hội trẻ em”, trong quá trình chơi của trẻ hiện diện hai loại quan hệ, đó là quan hệ chơi và quan hệ thực. Những mối quan hệ đi kèm với trò chơi là cơ sở để hình thành xã hội trẻ em. Thông qua trò chơi hình thành và phát triển ở trẻ những phẩm chất mang tính xã hội, khả năng thiết lập các mối quan hệ với trẻ khác. Các trò chơi tập thể giúp trẻ liên kết với nhau, làm nảy nở tình cảm bạn bè.
Khi chơi, trẻ biết kết hợp quyền lợi của cá nhân với lợi ích của 7 nhóm, đôi khi trẻ biết hy sinh ý muốn của mình vì lợi ích chung của cả nhóm, đây cũng có thể coi là cơ sở ban đầu của sự hợp tác. Những nghiên cứu ở Việt Nam Vì nhận thức được KNHT có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của trẻ MN nên ở trong nước, bên cạnh những công trình nghiên cứu về KNHT nói chung thì vấn đề KNHT của trẻ MG đã bắt đầu được một số nhà tâm lý, GDMN chú ý đến. Họ đi theo các con đường khác nhau nhung nhìn chung họ đều có mong muốn tìm ra con đường tốt nhất để giúp trẻ MG phát triển toàn diện nhân cách. Theo các nhà tâm lý học, giáo dục học thì con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất để hình thành KNHT cho trẻ là thông qua hoạt động vui chơi.
Cho nên từ những năm 70 trở lại đây các nhà khoa học GD Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi trẻ em với việc hình thành, phát triển nhân cách nói chung và hình thành KNHT cho trẻ MN nói riêng. Tiêu biểu như: GS.TS Đặng Thành Hưng cho rằng khi có KNHT thì trẻ có thể hiểu sâu sắc, toàn diện và biết cách đánh giá những ý tưởng của nhiều người. Từ đó trẻ dễ dàng hòa nhập nhiều hoạt động, nhiều sự kiện khác nhau và trên cơ sở đó, trẻ sẽ có cơ hội được trải nghiệm, tìm ra nhiều giải pháp dựa trên quá trình thu thập kinh nghiệm của nhiều cá nhân. Từ đó trẻ có thể tự kiểm định, đánh giá các năng lực và thành tựu của cá nhân.[10] Trong các công trình nghiên cứu về kĩ năng sống của con người thì ông Nguyễn Thanh Bình đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của KNHT trong học tập cũng như trong sinh hoạt ở mọi lứa tuổi, trong đó có cả lứa tuổi MN.
Vì vậy trong quá trinh GD trẻ cần chú ý đến việc hình thành KNHT cho trẻ nhỏ và nâng cao hiệu quả dạy học bằng cách áp dụng các biện pháp dạy học theo nhóm.[2] Chính vì hiểu được tầm quan trọng của KNHT đối với trẻ MN nên nhóm các tác giả như Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu,…đã đề cập đến việc phát triển những kĩ năng cần thiết cho trẻ MN.