CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Khái niệm về CPH và thực chất CPH các DNNN 1. Quan niệm về CPH Công ty cổ phần đã xuất hiện từ lâu, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh. Khi sản xuất phát triển, nhiều xí nghiệp lớn hiện đại xuất hiện, đòi hỏi phải có nhiều vốn đầu tư, nhiều tư bản cố định và thời hạn xây dựng kéo dài, do đó tín dụng ngân hàng không thế đáp ứng được.
Tín dụng ngân hàng chỉ có thể cho một nhà tư bản vay một số vốn không vượt quá số tài sản riêng của nhà tư bản đó. Để khắc phục những hạn chế của tín dụng ngân hàng, cần phải có một hình thức tập trung tư bản khác - đó là hình thức công ty cổ phần. Trong chủ nghĩa tư bản, để hình thành công ty cổ phần thì tư bản phải được CPH. Công ty cổ phần là hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh có hiệu quả đã từng thúc đẩy kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa.Mác từng cho rằng, kinh tế cổ phần là sản phẩm tất yếu của sự vận động mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá và hoạt động tín dụng [3].
Trước hết, CPH và tư nhân hoá là hai khái niệm khác nhau. Tư nhân hoá là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ nhà nước sang tư nhân, đồng thời chuyển các lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ nhà nước độc quyền sang cho tư nhân đảm nhiệm theo nguyên tắc thị trường (cung, cầu, cạnh tranh). Để đạt được sự chuyển đổi này, chúng ta đã thấy nhiều cách thức khác nhau được thực hiện ở Liên Xô cũ và Đông Âu như trả lại tài sản cho các chủ cũ hay tái tư nhân hoá, đấu giá, bán toàn bộ doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân (CPH). Phương thức tư nhân hoá này thực chất là loại bỏ thành phần kinh tế công đến mức tối đa.
Như vậy, mặc nhiên CPH chỉ là một trong nhiều cách 5 để tư nhân hoá một phần tài sản của doanh nghiệp nhà nước. CPH là khái niệm hẹp hơn tư nhân hoá. Trong CPH tài sản của DNNN được bán lại cho nhiều đối tượng khác nhau bao gồm: Các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp, giữ lại một tỷ lệ cổ phần cho nhà nước trong chính doanh nghiệp cổ phần đó. Như vậy, hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ Nhà nước duy nhất sang hỗn hợp, từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức, quản lý cũng như phương hướng hoạt động của Công ty.
DNNN sau khi CPH trở thành công ty cổ phần điều lệ và thể thức hoạt động theo luật công ty. Còn DNNN sau tư nhân hoá trở thành doanh nghiệp tư nhân và thể thức hoạt động theo luật doanh nghiệp tư nhân. Như vậy, về bản chất, CPH là đa dạng hóa sở hữu; là chuyển từ sở hữu đơn nhất sang đa sở hữu; là chuyển từ sở hữu một chủ thành sở hữu nhiều chủ; là xã hội hóa trên cả ba mặt: xã hội hóa về mặt kinh tế- xã hội, xã hội hóa về mặt kinh tế- kỹ thuật và xã hội hóa về mặt kinh tế- tổ chức. Thực chất cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Xét về hình thức, CPH DNNN là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các đối tượng tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành các công ty cổ phần.
Xét về bản chất, CPH DNNN là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu duy nhất Nhà nước trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ sỡ hữu để tạo ra mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh hiện đại. Như vậy, CPH DNNN đáp ứng được yêu cầu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường. Bởi vì nó gắn sở hữu với lợi ích kinh tế, tránh được trường hợp “cha chung không ai khóc” như trước đây. Vì thế, đối với nước ta, cổ phần hoá DNNN là một biện pháp hữu hiệu, đáp ứng được yêu cầu bức thiết của cuộc cải cách DNNN.
6 CPH được tiến hành theo cách thức sau đây: - Một là, giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp; - Hai là, bán một phần thuộc vốn giá trị nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc bán một phần kết hợp phát hành thêm cổ phiếu; - Ba là, tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để CPH; - Bốn là, bán toàn bộ giá trị thuộc vốn nhà nước tại doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần. Như vậy, về thực chất, CPH DNNN là chuyển từ đơn sở hữu (sở hữu Nhà nước) sang đa sở hữu; là xã hội hóa trên cả ba mặt phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất, đó là: - Xã hội hóa về mặt kinh tế - xã hội: Đây là đa dạng hóa sở hữu tư liệu sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất của các DNNN, đáp ứng yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. - Xã hội hóa về mặt kinh tế - kỹ thuật: Do đáp ứng được yêu cầu quy luật quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nên CPH DNNN thúc đẩy phát triển cơ sỏ' vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp và của cả nền kinh tế phát triển. - Xã hội hóa về mặt kinh tế - tổ chức: CPH DNNN tạo điều kiện quản lý sản xuất kinh doanh phù hợp với sự trình độ lực lượng sản xuất của doanh nghiệp Tóm lại, CPH DNNN đáp ứng được yêu cầu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, qua đó thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, thực hiện được xã hội hóa thực tế.
Đó là đảm bảo lợi ích kinh tế của các chủ sở hữu vốn doanh nghiệp. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là xu hướng tất yếu của quá trình đổi mới [11] Thứ nhất, do hiệu quả hoạt động, sản xuất kinh doanh của DNNN có chiều hướng giảm. Trong những năm 80 của thế kỷ XX, đối với các nước có nền kinh tế phát triển cũng như đang phát triển, vai trò của DNNN đã được khẳng định và giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nhìn tổng thể thì có những DNNN hoạt động tốt, hiệu quả kinh tế cao, nhưng có không ít doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả.
Nhà nước phải dùng chính sách kinh tế vĩ mô để bảo hộ, như: miễn giảm thuế, cấp vốn ưu đãi đầu tư, bù lỗ. Nhìn chung, DNNN còn những mặt hạn chế, yếu kém, hiệu quả kinh doanh thấp, chưa tương xứng với nguồn lực đã có và sự trợ giúp của nhà nước; công nợ còn nhiều, chậm đổi mới công nghệ, lao động còn dôi dư lớn, chưa thật sự tự chủ trong kinh doanh, trình độ quản lý còn yếu kém, cơ cấu DNNN còn nhiều bất hợp lý. Nhiều doanh nghiệp có năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh trên thị trường yếu dẫn đến hiệu quả kinh doanh còn nhiều hạn chế. Đây là một tình trạng chung của DNNN ở tất cả các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cũng như đang phát triển.
Thứ hai, nhà nước giảm dần sự bảo hộ đối với DNNN. Các nước phương Tây đã phải dao động giữa thời kỳ vững chãi của những thành công khu vực kinh tế nhà nước và sự phát triển của khu vực phi nhà nước cũng như việc mở rộng thị trường. Mặt khác, tỷ lệ lạm phát và nợ của nhà nước ngày càng tăng đã làm cho nhiều chính phủ phải tự xem lại chính sách kinh tế của mình. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa về thị trường sản phẩm và thị trường vốn, hàng loạt ngành công nghiệp ngày càng khó khăn hơn.
Đồng thời, việc phát triển sản xuất và những vấn đề liên quan đến sản xuất của các DNNN đều do nhà nước quyết định hoặc lãnh đạo doanh nghiệp quyết định đã phần nào gặp trở ngại trong môi trường mới, đòi hỏi phải có các quyết định nhanh và kịp thời trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, cổ phần hóa DNNN là một trong những giải pháp quan trọng để khắc phục tình trạng trên. Thứ ba, nhà nước giảm dần chức năng làm kinh tế. Nhà nước không có 8 tham vọng hành chính hóa nền kinh tế, cũng như không thể thay thế được vai trò của thị trường và các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, xét trên nhiều phương diện, sự quản lý, tác động của nhà nước là điều kiện không thể thiếu được cho sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Cho dù kinh tế thị trường có hiệu quả đến đâu thì cũng không thể thả nổi hoàn toàn nền kinh tế cho quy luật tự điều chỉnh của thị trường. Sẽ là ảo tưởng nếu cho rằng thị trường tự nó sẽ tự điều chỉnh, tự nó có đủ cơ chế để vận hành hiệu quả. Nhà nước điều tiết thị trường thông qua các quy phạm pháp luật và cơ chế chính sách.
Nhà nước cũng có thể can thiệp, điều tiết thị trường bằng việc thành lập các cơ quan được giao đặc trách việc điều tiết, quản lý kinh tế, với quy chế độc lập. Việc nhà nước hạn chế, giảm thiểu các biện pháp can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế và làm thay các DNNN dẫn đến hai thay đổi đáng kể: 1) Tăng cường vai trò quản lý của các cơ quan nhà nước thông qua việc ban hành các quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý chặt chẽ hơn cho sự vận hành của thị trường; 2) Tăng cường tính chủ động, trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất - kinh doanh. Hiện nay, các khoản nợ, việc chiếm dụng vốn giữa các doanh nghiệp với nhau rất lớn, nhà nước lại phải đứng ra lo trả nợ để đảm bảo cho sự hoạt động bình thường mặc dù không thu được vốn về. Điều đó đã khiến các DNNN trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước.