CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC 1. Sự nghiệp giáo dục đối với việc phát triển kinh tế - xã hội 1. Khái niệm và nội dung hoạt động của sự nghiệp giáo dục Giáo dục là tất cả các dạng học tập của con người và có thể coi là dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng con người theo nhiều nghĩa khác nhau. Hay nói cách khác, giáo dục là quá trình bồi dưỡng, nâng đỡ sự trưởng thành về nhận thức của con người, tạo ra những con người có đầy đủ kiến thức, năng lực hành vi, có khả năng sang tạo.
Ở góc độ hẹp hơn, giáo dục được hiểu đó là việc trang bị những kiến thức và hình thành nhân cách con người. Giáo dục - Đào tạo có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chính vì vậy, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Một dân tộc dốt là dân tộc yếu". Có thể nói sự thịnh suy của đất nước phụ thuộc vào ngành giáo dục - đào tạo.
Với ý nghĩa đó, tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định : "Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự công nghiệp hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững " (Văn kiện Đại hội Đảng IX) và với tầm quan trọng như vậy, giáo dục - đào tạo luôn được coi là "Quốc sách hàng đầu", "Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển", trong các lĩnh vực đầu tư cho giáo dục thì xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo đã được chiến lược phát triển giáo dục xem là một trong những biện pháp có tính đội phá. Đội ngũ giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo trong các nhà trường. Nghị quyết TWII khoá VIII của Đảng chỉ rõ: "Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh. Giáo viên phải đủ đức, đủ tài".
Kết luận của hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX yêu cầu: "Bố trí cán bộ quản lý giáo dục, đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu cân đối, chuẩn, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới…" Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới 5 căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam". Đặc biệt nghị quyết 29/NQTW có nhấn mạnh “…Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học …. Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng…” (QL theo chuẩn). Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá trình lao động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quá trình đó, mỗi giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự tự nhiên, tăng thêm động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong xã hội cổ xưa, thì giáo dục chỉ dừng lại ở sự truyền dạy cách sống, kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất ở phạm vi một bộ tộc, một bộ lạc… nhưng trong xã hội ngày nay, giáo dục được tổ chức thành một hệ thống hoàn chỉnh với những cấp bậc và chương trình giảng dạy khác nhau. Theo Luật Giáo dục năm 2005, hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: 1. Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; 2. Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; 3.Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; 4.Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
Thời gian qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền ngành giáo dục Việt Nam đã khắc phục và hoàn thiện rất nhiều, quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng, chất lượng được nâng cao: Về quy mô giáo dục: Nhìn chung quy mô giáo dục Việt Nam đang trên 6 đà phát triển. Mạng lưới trường, lớp được duy trì và phát triển với hình thức đa dạng, rộng khắp. Về cơ bản đã xóa được "xã trắng" về giáo dục mầm non; trường tiểu học đã có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở có ở xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ thông có ở tất cả các quận. Quy mô giáo dục không ngừng tăng lên và đang được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế, khắc phục tình trạng mất cân đối về cơ cấu lớp học, bậc học.
Đội ngũ giáo viên tiếp tục được tăng cường theo hướng chuẩn hóa. Cơ sở vật chất kỹ thuật tuy còn nhiều khó khăn nhưng cũng đã được củng cố và nâng cấp. Hệ thống giáo dục đang từng bước được xã hội hóa đa dạng về loại hình, phương thức và huy động nguồn lực cho phát triển giáo dục. Nền giáo dục ở Việt Nam cơ bản đáp ứng được mục tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài góp phần đắc lực để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hoá cho đất nước.
Tuy nhiên để mở rộng qui mô Giáo dục Việt Nam còn phải mở thêm nhiều loại hình với nhiều cấp bậc, theo nhiều thể chế và trong mỗi trường hợp phải có nhiều phương án tương đương. Đặc biệt phải khắc phục tình trạng mất cân đối trong phân công đội ngũ giáo viên. Việc thiếu giáo viên phổ biến là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và nhất là với cấp tiểu học. Về chất lượng giáo dục: Chất lượng giáo dục đã có những chuyển biến tích cực theo hướng giáo dục toàn diện.
Nội dung dạy học và kiến thức của học sinh phổ thông đã có tiến bộ, toàn diện hơn. Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên được nâng cao. Hệ thống trường, lớp ngày càng mở rộng và được bố trí hợp lý nên số học sinh bỏ học giảm rõ rệt thể hiện qua công tác duy trì sĩ số. Tỷ lệ hoàn thành cấp học qua các năm học có xu hướng tăng lên.
Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã củng cố và tăng cường xây dựng nhiều trường dân tộc nội trú để thu hút các con em dân tộc thiểu số đến trường. Đồng thời với sự đổi mới chương trình, sách giáo khoa và tài liệu dạy 7 học theo Nghị quyết 40/2000/QH của Quốc hội, phương pháp giáo dục ở các nhà trường đã bước đầu được đổi mới theo tinh thần phát huy tính năng động, chủ động và tích cực của người học, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy và học. Chuẩn nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên ở các cấp học và trình độ đào tạo đã và đang được xây dựng làm cơ sở cho việc đánh giá và bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn. Tuy nhiên, nhìn chung tỷ lệ hoàn thành các cấp học không ổn định qua các năm học, không đồng đều giữa các cấp học do công tác đổi mới phương pháp dạy và học đã được triển khai nhưng chưa đồng bộ; cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhất là đồ dùng dạy học, phòng thí nghiệm, thiết bị thực hành còn thiếu thốn; công tác phụ đạo, kèm cặp học sinh yếu một số trường chưa được quan tâm đúng mức.
Ngoài ra trong những năm qua, các khối tiến hành thay sách giáo khoa theo quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo nhưng việc tiếp cận và triển khai giảng dạy theo nội dung sách mới của không ít giáo viên còn lúng túng. Trong giáo dục chưa biện quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số lượng với nâng cao chất lượng. Tóm lại sự phát triển nhanh chóng của hệ thống giáo dục đào tạo đã đáp ứng được yều cầu to lớn về cán bộ khoa học kỹ thuật cho các ngành kinh tế quốc dân. Hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo hiện nay rất đa dạng và toàn diện, ở nhiều cấp bậc ngành học với nhiều lĩnh vực khác nhau để nhằm mục đích đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, phần nào đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vai trò của giáo dục đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt, có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, sản phẩm của giáo dục là tạo ra những con người có kiến thức, năng lực, hành vi phù hợp với yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể. Phát triển giáo dục là một trong những nền tảng và động 8 lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Ngày nay giáo dục đang trở thành một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng xã hội, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng và an ninh, bởi lẽ, con người được giáo dục tốt và biết tự giáo dục thường xuyên mới có khả năng biện quyết một cách sáng tạo và có hiệu quả những vấn đề do sự phát triển của xã hội đặt ra. Con người được giáo dục và biết tự giác giáo dục được coi là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển bền vững của xã hội.