CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NSNN, QUẢN LÝ CHI NSNN CẤP HUYỆN 1.1 Khái quát chung về NSNN 1. Khái niệm, bản chất NSNN 1. Khái niệm Theo Điều 1 Luật NSNN năm 2002 thì: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước” [12]. Bản chất NSNN ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước.
Bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính, Nhà nước đã đặt ra những khoản thu, chi để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Như vậy, chính sự tồn tại của Nhà nước và vai trò của Nhà nước đối với đời sống KT-XH là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của NSNN. Hoạt động của NSNN biểu hiện rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau, thể hiện ở các khoản thu và các nhiệm vụ chi của Nhà nước ở các lĩnh vực hoạt động KT-XH, an ninh, quốc phòng. Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của NSNN là một bộ phận các nguồn tài chính được tạo ra trong quá trình phân phối thu nhập quốc dân và được sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh.
Các khoản chi của NSNN chủ yếu mang tính chất cấp phát để phục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính của xã hội gắn liền với việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Trong quá trình phân phối đó đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể khác trong xã hội. Những quan hệ tài chính này bao gồm: - Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các doanh nghiệp Các quan hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình hình thành nguồn thu 5 của NS dưới hình thức các loại thuế mà doanh nghiệp phải nộp.
Đồng thời, NSNN chi hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp dưới hình thức xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ vốn… - Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các đơn vị hành chính sự nghiệp Quan hệ kinh tế này phát sinh thông qua việc phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc NSNN cấp kinh phí cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, trong mô hình nền kinh tế thị trường, các đơn vị hoạt động sự nghiệp có các khoản thu phí và lệ phí, nguồn thu này một phần các đơn vị nộp vào NS để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, một phần để trang trải các khoản chi tiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho NS. - Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các tầng lớp dân cư Quan hệ kinh tế này được thể hiện ở chỗ một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước bằng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí. Một bộ phận dân cư khác được nhận từ NSNN các khoản trợ cấp theo quy định của pháp luật.
- Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với thị trường tài chính Quan hệ này phát sinh khi Nhà nước tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán của KBNN nhằm huy động vốn của các chủ thể trong xã hội để đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của NSNN. Qua phân tích ở trên cho thấy, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một quỹ tiền tệ với các khoản thu và các khoản chi của nó thì NSNN lại phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối. Như vậy, bản chất của NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội thông qua quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [2]. Chức năng của NSNN NSNN là một bộ phận đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia.
Vì vậy, nó có hai chức năng là chức năng phân phối và chức năng giám đốc. - Chức năng phân phối: Để tồn tại thì bất cứ Nhà nước nào cũng đòi hỏi 6 phải có nguồn lực tài chính đủ lớn để đáp ứng các khoản chi tiêu cho hoạt động của mình. Muốn vậy, Nhà nước phải huy động các nguồn vốn ở trong và ngoài nước. Nguồn thu trong nước chủ yếu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà pháp luật quy định.
Còn nguồn huy động ngoài nước chủ yếu là từ các nguồn viện trợ, các khoản vay không hoàn lại hoặc có hoàn lại từ Chính phủ, doanh nghiệp của các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế cho Chính phủ hoặc chính quyền địa phương các cấp của nước mình. Chức năng phân phối của NSNN thể hiện qua các đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, phân phối dưới hình thức giá trị, đơn vị tính và phương tiện phân phối chủ yếu sử dụng tiền tệ. Thứ hai, tham gia không đầy đủ vào quá trình phân phối các yếu tố đầu vào. Thứ ba, thực hiện phân phối kết quả của quá trình sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ.
Thứ tư, cả cung và cầu của nền kinh tế gắn liền với sự hình thành và sử dụng quỹ NSNN, nó chịu tác động mạnh và trực tiếp của việc phân phối NSNN. Thứ năm, Nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phân phối ngân sách. Trong các quan hệ phân phối có liên quan đến NSNN, thì Nhà nước đóng vai trò là chủ thể của các mối quan hệ đó. Đối với việc phân phối ngân sách, Nhà nước sử dụng tối đa quyền lực chính trị, quyền chủ sở hữu của mình cho hoạt động này.
Thứ sáu, về cơ bản, quá trình phân phối lại NSNN mang tính không hoàn trả trực tiếp, không phát sinh nghĩa vụ vay trả nợ. Từ những đặc điểm nêu trên có thể thấy chức năng phân phối NSNN sẽ tác động trực tiếp đến việc làm thay đổi luồng tiền đầu tư cho sản xuất, mức thu nhập của những người hưởng lương từ NSNN, ảnh hưởng mạnh mẽ đến lượng cầu của nền kinh tế. Điều này cũng giúp phân biệt phân phối NSNN với phân phối theo cơ chế cạnh tranh theo cơ chế thị trường hoặc phân phối theo mệnh lệnh hành chính của cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Chức năng giám đốc: là giám sát, đôn đốc, kiểm tra bằng tiền, được tiến 7 hành một cách thường xuyên, liên tục trong quá trình vận động của các đối tượng phân phối NSNN.
Chức năng này được thực hiện thông qua các nghiệp vụ thống kê, kế toán, kiểm toán, thanh tra, kiểm tra tài chính, chế độ công khai tài chính NS và các phương tiện thông tin đại chúng. Giám đốc NSNN được thực hiện cả ở tầm vĩ mô và vi mô, cả trực tiếp và gián tiếp. Thông qua đó, Nhà nước kiểm soát tình hình tài chính vĩ mô, xem xét kết quả, mức độ thực hiện chế độ, hạn mức thu chi tại các cơ sở, đơn vị đóng góp và sử dụng NS. Thực hiện tốt chức năng này, Nhà nước được cung cấp số liệu chính xác về thực trạng, quá trình diễn biến và xu hướng vận động của NS.
Mặt khác, trên cơ sở hiệu quả của việc giám đốc, Nhà nước tiếp tục có những điều chỉnh cần thiết trong điều hành quản lý NS, tiến tới các mục tiêu chiến lược đã xác định có hiệu quả [2]. Vai trò của NSNN NSNN có vai trò cực kỳ quan trọng trong hầu hết các hoạt động của Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, vai trò của nó luôn luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định Thứ nhất, khai thác, huy động các nguồn thu và đảm bảo nhu cầu chi của Nhà nước Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của NS, những nguồn tài chính nhất định có yếu tố quyết định trong việc thực hiện các hoạt động của Nhà nước ở các lĩnh vực khác nhau. Các khoản thu thuế, phí, lệ phí,… giúp hình thành những nguồn tài chính này.
Đây là vai trò lịch sử của NSNN mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế hay quốc gia nào cũng đều phải thực hiện. Nhà nước thông qua quyền lực chính trị của mình để thu một phần của cải làm ra của xã hội vào NS với nhiều hình thức khác nhau theo mục tiêu của từng giai đoạn. Nhà nước sử dụng NS để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, mua sắm cơ sở vật chất và chi phí quản lý hành chính của các cơ quan Nhà nước cũng như hoạt động của lực lượng vũ trang. - Thứ hai, quản lý, điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô Nguồn thu của NSNN được hình thành từ rất nhiều các lĩnh vực khác 8 nhau; nhiệm vụ chi của NSNN mang tính chất xã hội rộng lớn mà Nhà nước phải đảm bảo.
Vì vậy NSNN có vai trò chi phối, phân bổ thu nhập, hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động tài chính của các chủ thể KT-XH khác. Việc định hướng phát triển sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách thuế. Chính sách thuế hợp lý, thông thoáng sẽ thu hút việc đầu tư của các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước vào những nơi, những lĩnh vực cần thiết, ngược lại chính sách thuế khắt khe sẽ làm giảm hạn chế đi việc đầu tư của các doanh nghiệp trong nước cũng như ngoài nước. Song song với điều đó, các hoạt động kinh tế tài chính trong nền kinh tế quốc dân cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các khoản chi đầu tư vốn vào các tập đoàn kinh tế lớn và xây dựng kết cấu hạ tầng của NSNN.
- Thứ ba, điều tiết giá cả thị trường và chống lạm phát Nền kinh tế thị trường có đặc điểm nổi bật là sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp với mục đích là đạt được lợi thế trên thị trường. Nhà nước sử dụng NS để can thiệp vào thị trường thông qua các chính sách thuế và điều chỉnh các khoản chi của NSNN dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ Nhà nước về hàng hoá và dự trữ tài chính.