Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Hoàn thiện công tác phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho ngân sách" được tác giả Trần Anh Dũng thực hiện tại Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội năm 2024, thuộc ngành Quản trị kinh doanh (mã số 9.01) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Công Nghiệp và PGS. Nguyễn Thị Việt Nga. Luận án tiếp cận vấn đề theo hướng kết hợp giữa nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng định tính, khảo sát thực tế và mô hình hóa dự phóng định lượng.

Về tính cấp thiết, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cùng bối cảnh hội nhập quốc tế và áp lực phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19 đã gia tăng nhu cầu huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước (NSNN). Việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) được xác định là kênh vay nợ chủ lực và hiệu quả. Mặc dù thị trường TPCP chuyên biệt từ năm 2009 đến năm 2021 đã huy động được hơn 2,47 triệu tỷ đồng cho NSNN thông qua hơn 2.600 phiên đấu thầu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), đưa quy mô thị trường đạt 22,7% GDP vào năm 2021, hoạt động phát hành vẫn bộc lộ những hạn chế. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin vận hành theo mô hình tập trung truyền thống tạo ra độ trễ, chi phí vận hành trung gian và giới hạn khả năng tiếp cận của các nhà đầu tư. Do đó, yêu cầu nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật phát hành, đặc biệt là ứng dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain), trở thành vấn đề cấp thiết cả về mặt học thuật lẫn thực tiễn quản trị tài chính công.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phát hành TPCP và hiệu quả huy động vốn cho NSNN; phân tích, đánh giá thực trạng đấu thầu phát hành TPCP giai đoạn 2010 – 2021; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp vĩ mô và vi mô, trọng tâm là mô hình ứng dụng công nghệ chuỗi khối Blockchain nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho NSNN đến năm 2030.

Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Xây dựng khung lý luận về phát hành TPCP, tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn cho NSNN và các nhân tố ảnh hưởng; tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế về phát hành TPCP và ứng dụng Blockchain.
  2. Vận dụng khung lý luận để phân tích thực trạng hoạt động đấu thầu phát hành TPCP giai đoạn 2010 – 2021, xử lý kết quả khảo sát thực tế nhằm chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị cụ thể giai đoạn 2021 – 2030, trong đó xây dựng mô hình và dự phóng kết quả ứng dụng nền tảng Hyperledger Fabric trong đấu thầu phát hành TPCP.

Luận án giải quyết năm câu hỏi nghiên cứu:

  • (i) Cần nhận diện như thế nào về lý luận của hoạt động phát hành TPCP và hiệu quả huy động vốn cho NSNN?
  • (ii) Cần hoàn thiện hoạt động phát hành TPCP qua đấu thầu như thế nào để nâng cao hiệu quả huy động vốn cho NSNN?
  • (iii) Thực tiễn hoạt động phát hành TPCP nhằm huy động vốn cho NSNN ở các quốc gia khác trên thế giới đem lại cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm gì?
  • (iv) Các giải pháp hoàn thiện hoạt động phát hành TPCP nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho NSNN là gì?
  • (v) Tại sao công nghệ chuỗi khối Blockchain lại đóng vai trò là giải pháp quan trọng giúp hoàn thiện hoạt động phát hành TPCP qua đấu thầu nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho NSNN Việt Nam, và mô hình ứng dụng công nghệ này như thế nào?

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động hoàn thiện phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước. Về phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung vào kỹ thuật phát hành theo phương thức đấu thầu (chiếm hơn 90% khối lượng TPCP đang lưu hành tại Việt Nam). Phạm vi thời gian phân tích thực trạng là giai đoạn 2010 – 2021, tầm nhìn giải pháp và dự phóng ngoại suy đến giai đoạn 2021 – 2030 (trọng tâm mô phỏng ứng dụng công nghệ giai đoạn 2026 – 2030). Phạm vi không gian là thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam, có nghiên cứu so sánh với kinh nghiệm của Vương quốc Anh, Cộng hòa Áo, Thái Lan, Philippines, Cộng hòa Liên bang Đức và Hàn Quốc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhánh chủ đề chính: phát triển thị trường TPCP và ứng dụng công nghệ Blockchain trong lĩnh vực chứng khoán.

Về tình hình nghiên cứu trong nước đối với thị trường TPCP:

  • Lê Anh Tuấn (2011) với luận án tiến sĩ "Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam" tại Học viện Tài chính, phân tích lý luận và thực trạng thị trường sơ cấp và thứ cấp giai đoạn 1990 – 2009, đề xuất các giải pháp hoàn thiện phương thức phát hành và loại hình trái phiếu.
  • Lê Thị Vân Anh (2017) với luận án tiến sĩ "Giải pháp thu hút và sử dụng nguồn vốn huy động qua kênh phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ" tại Học viện Tài chính, nghiên cứu quy trình phát hành trái phiếu quốc tế từ năm 2005 đến năm 2014, nhấn mạnh việc cải thiện hệ số tín nhiệm quốc gia và khung pháp lý.
  • Lê Thị Ngọc (2019) với luận án tiến sĩ "Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam" tại Học viện Tài chính, mở rộng khung thời gian nghiên cứu giai đoạn 2011 – 2017, sử dụng kết hợp phân tích định tính và định lượng để đánh giá các nhân tố tác động đến sự phát triển của thị trường TPCP đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
  • Trần Thị Thu Hương (2019) với luận án tiến sĩ "Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính" tại Học viện Ngân hàng, xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển thị trường giai đoạn 2000 – 2017 gồm các khía cạnh: quy mô, tính bền vững, mức độ hội nhập, mức độ tiếp cận, tính hiệu quả và sự ổn định.

Về tình hình nghiên cứu ứng dụng công nghệ Blockchain trong nước:

  • Lê Văn Lâm và Thân Thị Thu Thủy phân tích tiềm năng của Blockchain trong hoạt động thanh toán sau giao dịch, phát hành chứng khoán và thực thi quyền biểu quyết, nhằm rút ngắn thời gian và tăng tính thanh khoản.
  • Nguyễn Văn Thọ và Trần Việt Tâm (2020) đề xuất ý tưởng mô hình hệ thống giao dịch trái phiếu trên nền tảng mã nguồn mở Hyperledger Fabric kết nối Sở Giao dịch Chứng khoán (HOSE, HNX), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, ngân hàng thanh toán trung gian và các công ty chứng khoán.
  • Lê Vũ Linh Toàn (2021) tổng hợp thực tiễn ứng dụng Blockchain tại các thị trường chứng khoán Hoa Kỳ, Australia, Anh, Hàn Quốc, Đức, Ấn Độ, chỉ ra rào cản pháp lý là thách thức lớn nhất khi áp dụng.

Về tình hình nghiên cứu nước ngoài:

  • Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ - USAID (2010) công bố báo cáo "FS series #12: Developing Government Bond Markets", phân tích ba nhóm điều kiện tiền đề phát triển thị trường TPCP: điều kiện chung (mức độ tín nhiệm, kinh tế vĩ mô ổn định, khung pháp lý), thị trường tiền tệ và quản lý nợ công.
  • Stijn Claessens, Daniela Klingebiel và Sergio Schmukler (2007) trong công trình "Government Bonds in Domestic and Foreign Currency: The role of Institutional and Macroeconomic Factors" chứng minh các yếu tố vĩ mô (lạm phát, gánh nặng tài khóa, cơ chế tỷ giá) và thể chế chi phối quyết định phát hành trái phiếu bằng nội tệ hay ngoại tệ.
  • Capgemini (2016) công bố báo cáo "Blockchain Disruption in Security Issuance: Enabling The Issuance of Fully Digitized Smart Securities", phân tích cách thức hợp đồng thông minh thay thế quy trình thủ công và trung gian. Báo cáo đưa ra số liệu chi phí phát hành trung bình với Blockchain: 3,45% đối với chứng khoán riêng lẻ, 7% đối với IPO và 0,9% - 1,5% đối với phát hành trái phiếu.
  • Wanli Chen và Qianxia Wang (2019, 2020) nghiên cứu "Appearance of Blockchain Bonds: An Assessment of Blockchain Impact on Bond Issuance Process in European Debt Capital Market", chỉ ra tiềm năng số hóa quy trình bù trừ, thanh toán và các thách thức về khả năng mở rộng, thuế và khung pháp lý.
  • Elisabeta Pana và Vikas Gangal (2021) trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Ứng dụng số 23(1) tổng hợp danh mục 11 tổ chức, ngân hàng đã phát hành trái phiếu ứng dụng Blockchain từ năm 2017, phân tích việc loại bỏ trung gian và các hạn chế về thiếu chuẩn hóa nền tảng.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định gồm: (1) Các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận phát triển thị trường ở cấp độ vĩ mô, thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về hoàn thiện kỹ thuật đấu thầu gắn với hiệu quả ngân sách; (2) Các nghiên cứu trước đây được thực hiện trước biến động của đại dịch Covid-19 và bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ; (3) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ Blockchain trong nước mới dừng ở mức giới thiệu lý thuyết chung hoặc sàn giao dịch cổ phiếu, chưa đi sâu thiết kế mô hình kỹ thuật chi tiết và lượng hóa tác động đối với quy trình đấu thầu phát hành TPCP của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng khung lý luận về tài chính công và lý thuyết chứng khoán nợ:

  • Khái niệm Ngân sách Nhà nước được căn cứ theo Điều 4 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015. Luận án phân tích năm đặc điểm cơ bản và vai trò của NSNN, so sánh các hình thức tài trợ thâm hụt: phát hành tiền, tăng thuế, bán tài sản quốc gia, viện trợ phát triển chính thức (ODA), vay nợ ngân hàng và phát hành TPCP.
  • Khái niệm TPCP được xác định theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 01/2011/NĐ-CP. TPCP có ba đặc điểm: rủi ro thấp, tính sinh lời thấp và tính thanh khoản cao; gắn với các yếu tố cơ bản: mệnh giá, kỳ hạn, lãi suất và giá trái phiếu.
  • Bốn tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn cho NSNN qua phát hành TPCP được xác lập gồm: (1) Quy mô huy động vốn (khối lượng phát hành đáp ứng dự toán ngân sách); (2) Chi phí vốn (lãi suất phát hành, giá bán chiết khấu/phụ trội); (3) Tính thanh khoản (khả năng chuyển đổi trên thị trường thứ cấp); (4) Quản trị rủi ro (cơ cấu kỳ hạn nợ, kiểm soát rủi ro lãi suất và thanh toán).
Tiêu chí đánh giá hiệu quả Chỉ số / Nội dung đo lường Ý nghĩa đối với quản lý NSNN
Quy mô huy động vốn Tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn huy động, tỷ lệ trúng thầu/gọi thầu, khối lượng phát hành thực tế Đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu bù đắp bội chi và đầu tư phát triển theo phê duyệt của Quốc hội
Chi phí vốn Lãi suất trúng thầu bình quân, giá phát hành so với mệnh giá, chi phí trả lãi hàng năm Giảm áp lực trả nợ công, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn vay cho ngân sách
Tính thanh khoản Khối lượng giao dịch thứ cấp, tỷ lệ quay vòng danh mục trái phiếu Tăng sức hấp dẫn của TPCP, giảm phần bù thanh khoản mà nhà đầu tư yêu cầu
Quản trị rủi ro Kỳ hạn phát hành bình quân, kỳ hạn còn lại bình quân danh mục, cơ cấu nhà đầu tư Kéo dài thời gian đáo hạn, giảm rủi ro tái cấp vốn và rủi ro đảo nợ ngắn hạn

Phương pháp nghiên cứu thực hiện qua quy trình 5 bước:

  • Phương pháp nghiên cứu tại bàn và hệ thống hóa: Thu thập, phân tích và kế thừa có chọn lọc các văn bản pháp luật, báo cáo thường niên, đề án và công trình khoa học trong và ngoài nước.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu từ Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước (KBNN), HNX, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD), Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
  • Phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi: Đối tượng khảo sát là các nhà quản lý và nhà đầu tư tham gia thị trường TPCP. Cỡ mẫu tối thiểu xác định theo công thức của Comrey và Lee (1992): $n = 5 \times m$ (với $m$ là số lượng câu hỏi). Tác giả phát đi 60 phiếu khảo sát, thu về 58 phiếu, loại bỏ các phiếu không hợp lệ, giữ lại 53 phiếu hợp lệ để xử lý và phân tích trên phần mềm Excel.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia trong lĩnh vực nợ công, chứng khoán và công nghệ tài chính để chuẩn hóa bảng hỏi và hoàn thiện đề xuất.
  • Phương pháp mô phỏng và dự phóng ngoại suy: Sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian về kết quả phát hành TPCP giai đoạn 2010 – 2021 để mô phỏng sự thay đổi tham số hệ thống khi ứng dụng nền tảng Blockchain, từ đó dự phóng khối lượng phát hành TPCP tăng thêm trong giai đoạn 2026 – 2030.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 trình bày bức tranh toàn diện về các nghiên cứu liên quan đến phát triển thị trường TPCP và ứng dụng công nghệ chuỗi khối. Tác giả phân tích các nghiên cứu trong nước (Lê Anh Tuấn, Lê Thị Vân Anh, Lê Thị Ngọc, Trần Thị Thu Hương, Lê Văn Lâm, Nguyễn Văn Thọ, Lê Vũ Linh Toàn) và quốc tế (USAID, Stijn Claessens, Capgemini, Wanli Chen, Elisabeta Pana). Từ đó, chương xác định khoảng trống về việc ứng dụng công nghệ Blockchain trong kỹ thuật đấu thầu TPCP tại Việt Nam và phác thảo bốn nhóm đóng góp mới của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế của NSNN, các phương thức bù đắp thiếu hụt ngân sách và xác lập các tiêu chí đánh giá hiệu quả phát hành TPCP. Chương phân tích các nhân tố khách quan (môi trường kinh tế vĩ mô, khung pháp lý, sự phát triển của hệ thống tài chính) và chủ quan (chiến lược quản lý nợ, kỹ thuật tổ chức đấu thầu, cơ sở hạ tầng công nghệ).

Chương 2 cũng nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế:

  • Vương quốc Anh: Thiết lập cơ quan quản lý nợ chuyên trách (DMO), hệ thống nhà tạo lập thị trường (GEMMs) và quy trình đấu thầu tiêu chuẩn hóa.
  • Thái Lan: Hiện đại hóa hạ tầng đấu thầu điện tử (e-Bidding) và mở rộng kênh tiếp cận cho nhà đầu tư cá nhân.
  • Philippines: Triển khai ứng dụng di động Bonds.PH phát hành bán lẻ TPCP dựa trên công nghệ sổ cái phân tán/Blockchain.
  • Cộng hòa Áo: Cơ quan Quản lý Kho bạc Áo (OeKB) ứng dụng Blockchain trong quy trình đấu thầu công chứng và phát hành trái phiếu công chứng số hóa.
  • Bài học cho Việt Nam: Hoàn thiện khung khổ pháp lý, đa dạng hóa phương thức đấu thầu, tái cấu trúc nhà đầu tư và ứng dụng công nghệ mới.

Chương 3: Thực trạng hoạt động đấu thầu phát hành trái phiếu Chính phủ

Chương 3 phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô và kết quả đấu thầu phát hành TPCP giai đoạn 2010 – 2021:

  • Về khối lượng và tỷ lệ trúng thầu: Tổng khối lượng vốn huy động cho NSNN giai đoạn 2010 – 2021 đạt hơn 2,47 triệu tỷ đồng, bình quân đạt trên 206 nghìn tỷ đồng/năm. HNX đã tổ chức hơn 2.600 phiên đấu thầu với tỷ lệ trúng thầu bình quân đạt từ 60% đến 70% khối lượng gọi thầu.
  • Về kỳ hạn phát hành: Xu hướng chuyển dịch từ ngắn hạn sang trung và dài hạn. Kỳ hạn phát hành bình quân tăng từ dưới 4 năm giai đoạn trước 2015 lên mức 12,2 năm vào năm 2021.
  • Về lãi suất: Lãi suất trúng thầu giảm rõ rệt, từ mức bình quân khoảng 10%/năm (năm 2009) xuống còn khoảng 2%/năm vào năm 2021.
  • Về quy mô thị trường: Quy mô thị trường TPCP sơ cấp đạt 22,7% GDP vào cuối năm 2021, gấp 2,8 lần so với quy mô năm 2010.
Chỉ tiêu phát hành TPCP Năm 2009 / 2010 Năm 2021 Chiều hướng thay đổi
Quy mô thị trường / GDP 8,1% GDP (năm 2010) 22,7% GDP Tăng gấp 2,8 lần
Lãi suất phát hành bình quân ~10%/năm (năm 2009) ~2%/năm Giảm khoảng 8 điểm phần trăm
Kỳ hạn phát hành bình quân < 4 năm (giai đoạn đầu) 12,2 năm Kéo dài kỳ hạn danh mục nợ
Khối lượng huy động tích lũy Giai đoạn đầu thành lập > 2,47 triệu tỷ đồng Bình quân > 206 nghìn tỷ đồng/năm
Số phiên đấu thầu qua HNX Bắt đầu vận hành > 2.600 phiên Tỷ lệ trúng thầu bình quân 60 - 70%
  • Cơ cấu nhà đầu tư: Từng bước giảm sự phụ thuộc vào các ngân hàng thương mại, tăng tỷ trọng nắm giữ của Bảo hiểm Xã hội (BHXH) và các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
  • Kết quả khảo sát thực tế (53 phiếu): Đánh giá cao tính minh bạch của hệ thống HNX nhưng xác nhận các điểm nghẽn về hạ tầng công nghệ tập trung, thủ tục lưu ký, phân phối thứ cấp và mức độ tham gia của nhà đầu tư cá nhân.
  • Hạn chế: Phương thức đấu thầu chủ yếu là đấu thầu đơn giá; thanh khoản thị trường thứ cấp chưa tương xứng; chi phí trung gian còn tồn tại; hạ tầng chưa tích hợp công nghệ phân tán.

Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước

Chương 4 xác định mục tiêu phát hành TPCP gắn với Chiến lược tài chính và Kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2021 – 2030.

Nhóm giải pháp vĩ mô:

  1. Tiêu chuẩn hóa, hệ thống hóa hoạt động phát hành và hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường trái phiếu.
  2. Mở rộng quy mô thị trường TPCP gắn với kiểm soát an toàn nợ công và điều hành ngân sách.

Nhóm giải pháp vi mô:

  1. Nâng cấp kỹ thuật tổ chức đấu thầu, hoàn thiện hệ thống thông tin dữ liệu thị trường.
  2. Đa dạng hóa phương thức phát hành, từng bước mở rộng áp dụng cơ chế đấu thầu đa giá (multiple-price auction) bên cạnh đấu thầu đơn giá (uniform-price auction).
  3. Nghiên cứu triển khai thí điểm ứng dụng công nghệ chuỗi khối Blockchain trong hoạt động phát hành TPCP. Luận án thiết kế mô hình kiến trúc kỹ thuật dựa trên nền tảng Hyperledger Fabric (mạng phân quyền - permissioned blockchain), phân định các nút mạng (Nodes), các kênh truyền riêng biệt (Channels) kết nối Bộ Tài chính, KBNN, HNX, VSD, các ngân hàng thương mại và nhà đầu tư qua hệ thống cổng giao tiếp API.
  4. Dự phóng ngoại suy định lượng: Luận án xây dựng kịch bản mô phỏng khối lượng phát hành TPCP tăng thêm giai đoạn 2026 – 2030 khi ứng dụng hạ tầng Blockchain giúp giảm thiểu chi phí và mở rộng cơ sở nhà đầu tư.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về hiệu quả huy động vốn cho NSNN qua phát hành TPCP; xác lập rõ mối quan hệ giữa bốn tiêu chí: quy mô, chi phí, thanh khoản và quản trị rủi ro nợ công.
  • Bổ sung cơ sở lý thuyết về ứng dụng công nghệ chuỗi khối Blockchain phân quyền (Hyperledger Fabric) trong nghiệp vụ chứng khoán nợ của khu vực công.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, có căn cứ số liệu thực chứng về hoạt động đấu thầu phát hành TPCP tại Việt Nam suốt giai đoạn 2010 – 2021 (khối lượng huy động, số phiên đấu thầu, biến động lãi suất, kỳ hạn nợ và thị phần nhà đầu tư).
  • Điều tra, phân tích thực tế từ 53 mẫu khảo sát và phỏng vấn sâu chuyên gia, chỉ ra các nút thắt kỹ thuật và công nghệ của thị trường sơ cấp.
  • Đề xuất mô hình vận hành phát hành TPCP trên nền tảng Hyperledger Fabric và thực hiện dự phóng ngoại suy định lượng về khối lượng phát hành gia tăng cho giai đoạn 2026 – 2030.

Hệ thống kiến nghị chính sách:

  • Đối với Bộ Tài chính và Kho bạc Nhà nước: Hoàn thiện quy chế phát hành, xây dựng khung pháp lý thử nghiệm (sandbox) cho việc số hóa trái phiếu, áp dụng linh hoạt cơ chế đấu thầu đa giá.
  • Đối với Ngân hàng Nhà nước, HNX và VSD: Nâng cấp hệ thống thanh toán liên ngân hàng thời gian thực, chuẩn hóa cổng kết nối API và chuẩn bị cơ sở hạ tầng tích hợp công nghệ phân tán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi kỹ thuật tập trung vào phương thức phát hành qua đấu thầu, chưa đi sâu phân tích chi tiết phương thức bảo lãnh phát hành và phát hành riêng lẻ.
  • Mẫu điều tra khảo sát sơ cấp ($n = 53$) được thu thập ngẫu nhiên thông qua mối quan hệ tiếp cận chuyên môn của tác giả, quy mô mẫu còn ở mức vừa phải.
  • Mô hình ứng dụng công nghệ Blockchain dừng lại ở mức thiết kế kiến trúc hệ thống, quy trình vận hành lý thuyết và mô phỏng dự phóng ngoại suy, chưa triển khai thử nghiệm thực tế trên môi trường mạng thử nghiệm chuyên dụng của cơ quan quản lý.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) cho việc phát hành tài sản tài chính số hóa của Chính phủ.
  • Mở rộng quy mô điều tra thực nghiệm đối với nhóm nhà đầu tư cá nhân và tổ chức tài chính quốc tế khi tham gia thị trường nợ công số hóa.
  • Phân tích so sánh định lượng sâu hơn giữa hai mô hình đấu thầu đơn giá và đa giá trong điều kiện thị trường có biến động lãi suất lớn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng:

  • Cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, HNX, VSD) trong việc hoạch định chính sách nợ công, tái cơ cấu danh mục TPCP và xây dựng lộ trình chuyển đổi số hạ tầng thị trường tài chính.
  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Tài chính công trong việc tham khảo khung lý luận, số liệu thực chứng giai đoạn 2010 – 2021 và phương pháp mô phỏng dự phóng.
  • Các định chế tài chính, ngân hàng thương mại, công ty quản lý quỹ và công ty chứng khoán để nắm bắt quy trình kỹ thuật đấu thầu và xu hướng ứng dụng công nghệ sổ cái phân tán trong giao dịch công cụ nợ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lại tập trung nghiên cứu phương thức phát hành TPCP qua đấu thầu thay vì các phương thức khác? Phương thức đấu thầu là phương thức phát hành chủ đạo của Chính phủ Việt Nam, chiếm trên 90% tổng khối lượng TPCP đang lưu hành. Đấu thầu phản ánh rõ nhất tính thị trường của lãi suất, tạo đường cong lãi suất chuẩn và đảm bảo tính công khai, minh bạch trong huy động vốn cho NSNN.

2. Hoạt động đấu thầu phát hành TPCP giai đoạn 2010 – 2021 đã đạt được những kết quả chủ yếu nào về mặt số liệu? Tổng khối lượng vốn huy động cho NSNN đạt hơn 2,47 triệu tỷ đồng (bình quân trên 206 nghìn tỷ đồng/năm) qua hơn 2.600 phiên đấu thầu tại HNX. Tỷ lệ trúng thầu bình quân đạt 60 – 70%. Lãi suất phát hành giảm từ khoảng 10%/năm (năm 2009) xuống khoảng 2%/năm (năm 2021). Kỳ hạn phát hành bình quân kéo dài lên mức 12,2 năm vào năm 2021. Quy mô thị trường đạt 22,7% GDP vào năm 2021 (gấp 2,8 lần năm 2010).

3. Luận án đề xuất ứng dụng nền tảng công nghệ Blockchain nào và cấu trúc ra sao? Luận án đề xuất ứng dụng nền tảng mã nguồn mở Hyperledger Fabric (mạng chuỗi khối phân quyền/permissioned). Kiến trúc gồm các nút mạng (Bộ Tài chính, KBNN, HNX, VSD, ngân hàng, nhà đầu tư), các kênh truyền dữ liệu riêng biệt (Channels), hợp đồng thông minh (Smart Contracts) tự động hóa quy trình đấu thầu, thanh toán và cổng giao tiếp API cho nhà đầu tư.

4. Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát thực tế của luận án được thực hiện như thế nào? Cỡ mẫu tối thiểu được xác định theo nguyên tắc $n = 5 \times m$ của Comrey và Lee (1992). Tác giả phát đi 60 bảng hỏi cho các nhà quản lý và nhà đầu tư tham gia thị trường TPCP, thu về 58 bảng và lọc ra 53 bảng hỏi hợp lệ chính thức để nhập liệu, xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel.

5. Luận án đề xuất những giải pháp kỹ thuật vi mô cụ thể nào cho công tác phát hành TPCP? Các giải pháp vi mô gồm: nâng cấp kỹ thuật tổ chức đấu thầu và hệ thống dữ liệu thị trường; mở rộng áp dụng cơ chế đấu thầu đa giá bên cạnh đấu thầu đơn giá; nghiên cứu thí điểm ứng dụng công nghệ chuỗi khối Hyperledger Fabric vào quy trình phát hành; thực hiện mô phỏng và dự phóng khối lượng phát hành tăng thêm giai đoạn 2026 – 2030.

Kết luận

Luận án của tác giả Trần Anh Dũng đã giải quyết một cách có hệ thống bài toán nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước thông qua hoàn thiện hoạt động đấu thầu phát hành trái phiếu Chính phủ. Bằng việc kết hợp giữa phân tích dữ liệu thực chứng giai đoạn 2010 – 2021, khảo sát ý kiến chuyên gia và mô phỏng dự phóng ngoại suy, luận án đã làm rõ các thành tựu về hạ thấp lãi suất, kéo dài kỳ hạn và tăng quy mô thị trường nợ công, đồng thời nhận diện các hạn chế của mô hình vận hành tập trung hiện tại. Đóng góp nổi bật của công trình là đề xuất khung kiến trúc ứng dụng công nghệ chuỗi khối Hyperledger Fabric, mang lại giải pháp công nghệ có cơ sở khoa học nhằm tối ưu hóa chi phí, rút ngắn quy trình và mở rộng quy mô huy động vốn cho NSNN Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2030.