CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ ĐỊA PHƯƠNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về ngân sách nhà nước Hoạt động NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước ở tầm vĩ mô. Vai trò của NSNN trong hệ thống tài chính nói chung, cũng như trong khu vực tài chính nhà nước nói riêng, NSNN luôn giữ vị trí trọng yếu trong việc đảm bảo cho sự tồn tại cũng như đối với các hoạt động của nhà nước.[9, tr12] Tại điều 1 Luật NSNN được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002 cũng khẳng định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.[10, tr8] Với khái niệm trên, khi nói đến ngân sách nhà nước, người ta thường đề cập tới 3 đặc tính cơ bản: + Tính pháp lý: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện.
+ Tính kinh tế: Phản ảnh các khoản thu và các khoản chi + Tính niên độ: Thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Xét về bên trong thì ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng các mối quan hệ kinh tế trong quá trình tạo lập, phân phối sử dụng các nguồn tài chính quốc gia để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của NN 1. Khái niệm phân cấp quản lý NSNN Hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp và mỗi cấp đều được phân giao những nhiệm vụ nhất định. Để thực hiện những 5 nhiệm vụ đó, mỗi cấp lại được phân giao những quyền hạn cụ thể về nhân sự, kinh tế, hành chính và ngân sách. Việc hĩnh thành hệ thống ngân sách nhà nước gồm nhiều cấp thi việc phân cấp ngân sách nhà nước là một tất yếu khách quan.
Bởi vĩ mỗi cấp ngân sách nhà nước đều có nhiệm vụ thu, chi mang tính độc lập. Trong việc tổ chức quản lý tài chính nhà nước nếu cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được thiết lập phù họp thi tĩnh hĩnh quản lý tài chính và ngân sách nhà nước sẽ được cải thiện góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định của nền kinh tế - xã hội. Sự phân giao về ngân sách cho các cấp chính quyền làm nảy sinh khái niệm về phân cấp quản lý ngân sách. Có thể hiểu về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước như sau: Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc phân định phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương tới địa phương trong quá trĩnh tổ chức tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước phục vụ cho việc thực thi chức năng nhiệm vụ của nhà nước.
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước chỉ xảy ra khi ở đó có nhiều cấp ngân sách, phân cấp ngân sách thể hiện mối quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương. Những nguyên tắc cơ bản trong quản lý NSNN Để phát huy vai trò, chức năng của ngân sách nhà nước trong đời sống kinh tế - xã hội, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và các kinh nghiệm sử dụng công cụ ngân sách nhà nước ở nước ta, khái quát hoá kết quả nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực tiễn đã đưa ra một số nguyên tắc như sau: Một là, Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ: Điều 6 Hiến pháp nước cộng hoà XHCN Việt nam năm 1992 quy định: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. 6 Hai là, Nguyên tắc công khai minh bạch: Công khai là để mọi người đều được biết, Minh bạch là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dễ hiểu. Quản lý ngân sách phải công khai minh bạch xuất phát từ đòi hỏi chính đáng của người dân với tư cách là người nộp thuế cho nhà nước.
Quy tắc chung về tính minh bạch gồm các nội dung chủ yếu là: - Ngân sách phải đảm bảo tính toàn diện. Điều này có nghĩa là các hoạt động trong và ngoài ngân sách đều được phản ánh vào tài liệu trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. - Đảm bảo tính khách quan độc lập. Các cấp, các đơn vị dự toán, các tổ chức cá nhân được NSNN hỗ trợ phải công khai dự toán và quyết toán ngân sách, Nội dung công khai theo các biểu mẫu quy định, thời gian công khai được quy định rõ đối với từng cấp ngân sách.
Ba là, Nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm: Nhà nước phải đảm bảo trách nhiệm trước nhân dân về toàn bộ quá trình quản lý ngân sách. Chịu trách nhiệm hữu hiệu bao gồm khả năng điều trần và gánh chịu hậu quả. Bốn là, Nguyên tắc đảm bảo cân đối NSNN: Cân đối NSNN ngoài sự cân bằng về thu, chi còn là sự hài hoà họp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản thu, chi; các lĩnh vực, các ngành; các cấp chính quyền thậm chí ngay cả giữa các thế hệ (ví dụ: vay nợ). Đảm bảo cân đối ngân sách là một đòi hỏi khách quan xuất phát từ vai trò nhà nước trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu ổn định, hiệu quả và công bàng.
Vĩ vậy tính toán nhu cầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách là rất quan trọng. Các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn bù đắp. Hình thức, nội dung quản lý phân cấp quản lý NSNN 1. Hình thức phân cấp quản lý NSNN Trong các chiến lược phân cấp ở các nước, phân cấp quản lý NSNN thường đề cập đến việc nên trao cho CQĐP những nguồn thu và chức năng 7 chi tiêu nào; và mức độ tự chủ của CQĐP là như thế nào đối với các chức năng được giao.
Tuy nhiên, phân cấp quản lý NSNN không chỉ liên quan đến ngân sách mà còn nhằm thúc đẩy trách nhiệm chính trị, hiệu quả kinh tế và minh bạch ở CQĐP.Chính vì vậy, trong quá trình cải cách phân cấp quản lý NSNN, các vấn đề liên quan đến thể chế như quyền và trách nhiệm của các cấp chính quyền cần được xây dựng và tuân thủ. Theo đó, xét dưới góc độ thẩm quyền, có thể phân chia phân cấp quản lý NSNNtheo các hình thức như phân cấp hành chính: Tản quyền: là cách thức chuyển giao quyền thực thi các nhiệm vụ từ CQTƯ cho các cơ quan đại diện của nó đặt tại các địa phương. Theo Rondinelli và Nellis (1986), tản quyền là hình thức mà trong đó các cơ quan hành chính đặt tại địa phương là chi nhánh của CQTƯ được chỉ định và chịu trách nhiệm trực tiếp đối với CQTƯ. Đây là hình thức có mức độ phân cấp bằng không nếu nhìn từ mối quan hệ giữa các cấp chính quyền, thậm chí có thể không coi đó là một hình thức phân cấp vì việc chuyển giao nhiệm vụ và quyền hạn chỉ diễn ra trong nội bộ ngành dọc của một cấp chính quyền.
Hình thức này tương ứng với cách thức tổ chức quản lý NSNN theo đơn vị dự toán cấp 1, cấp 2 và cấp 3 ở Việt Nam hiện nay. Ủy quyền: là việc CQTƯ chuyển giao quyền quyết định và trách nhiệm điều hành các hoạt động cho CQĐP. Tuy nhiên, các CQĐP không được độc lập hoàn toàn và phải chịu sự hướng dẫn, kiểm soát của CQTƯ khi thực hiện những nhiệm vụ này. Trong hình thức phân cấp này, CQĐP thay mặt CQTƯ để ra quyết định, song CQTƯ vẫn chịu trách nhiệm về các quyết định.Có thể nói, đây là hình thức phân cấp quản lý NSNNchủ yếu ở Việt Nam.
Theo Luật NSNN năm 2002, phân cấp quản lý NSNN được hiểu là sự phân chia nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền. Mọi quyền quyết định quan trọng về NSNN tập trung ở CQTƯ. 8 Trao quyền: là mức độ đảm bảo tính độc lập cao nhất của CQĐP. Trao quyền ám chỉ đến việc tạo ra một đơn vị độc lập nằm ngoài sự kiểm soát của CQTƯ.
Nói cách khác, khi một CQĐP được trao quyền, nó được hoàn toàn độc lập ra quyết định mà không phải chịu sự kiểm soát nào từ phía CQTƯ. Ví dụ, CQĐP được tự định ra thuế suất hay được tự áp đặt một loại thuế mới. Hình thức này thường được áp dụng trong các mô hình tổ chức nhà nước liên bang. Các quốc gia lựa chọn hình thức phân cấp quản lý NSNN gắn với cách thức tổ chức bộ máy nhà nước của mình.
Mức độ phân cấp quản lý NSNN cao nhất là trao quyền thường được thấy ở trong mô hình nhà nước liên bang. Ngược lại, các hình thức phân cấp ở mức độ thấp hơn thường được thấy ở mô hình nhà nước đơn nhất. Trên thực tế, phân cấp quản lý NSNN có sự hòa trộn giữa các hình thức khác nhau. Ví dụ như Việt Nam, phân cấp quản lý NSNN chủ yếu thực hiện theo hình thức ủy quyền, có nghĩa có sự phân chia nhiệm vụ và quyền hạn trong quản lý các nguồn thu và nhiệm vụ chi của NSNN giữa các cấp chính quyền, mà thẩm quyền quyết định thuộc về CQTƯ.
Quốc hội quyết định các sắc thuế, thuế suất và cơ sởtính thuế, quyết định phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi cho CQĐP. Các CQĐP thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp trong phạm vi giới hạn về quyền lực, các quyết định của CQĐP về ngân sách phải dựa trên cơ sở các qui định mà CQTƯ đã phê chuẩn. Tuy nhiên, Luật NSNN(2002) cũng cho phép chính quyền cấp tỉnh quyết định phân cấp các nguồn thu, nhiệm vụ chi cho chính quyền cấp dưới, quyết định một số loại phí và lệ phí ở địa phương gần giống như hình thức trao quyền. Mục tiêu, vai trò của phân cấp quản lý NSNN a) Mục tiêu của phân cấp quản lý NSNN Một là, Phát huy tính năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền các cấp, nhằm phục vụ tốt nhất nhiệm vụ phát triển 9 kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính.
[12, tr37] Hai là, Tạo ra sự đồng bộ thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy phạm pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và đảm bảo quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở.