CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ CÔNG TÁC CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC 1. Khát quát về sự nghiệp giáo dục 1. Sự nghiệp giáo dục Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự truyền đạt kinh nghiệm, trí tuệ của thế hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm sản xuất, đời sống, sinh hoạt. Theo nghĩa hẹp, giáo dục trang bị những kiến thức và hình thành nhân cách con người.
Giáo dục không phải sự áp đặt khuôn mẫu, càng không phải ngăn chặn sự nảy sinh các nhu cầu mà thông qua giáo dục để khơi dậy các nhu cầu chân chính, những khát vọng và những hoài bão. Giáo dục được coi là hoạt động sản xuất đặc biệt trong tất cả các hoạt động bởi đầu vào là con người và đầu ra cũng là con người nhưng với đầy đủ kiến thức, năng lực, hành vi, ý thức.Thông qua giáo dục để phát triển trí tuệ, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao năng lực của con người. Sự nghiệp giáo dục được chia ra làm nhiều năm liên tục với nhiều cấp bậc học khác nhau phù hợp với trình độ tư duy và khả năng nhận thức của con người trong từng giai đoạn cụ thể. ở nước ta sự nghiệp giáo dục được chia ra làm các giai đoạn: - Giáo dục mầm non bao gồm nhà trẻ và mẫu giáo.
- Giáo dục phổ thông bao gồm bậc tiểu học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học. - Giáo dục nghề nghiệp bao gồm trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. - Giáo dục đại học bao gồm trình độ cao đẳng và trình độ đại học. - Giáo dục sau đại học bao gồm trình độ thạc sỹ và trình độ tiến sỹ.
8 Nền kinh tế trên thế giới và trong khu vực đang có những bước phát triển không ngừng, để nhanh chóng hoà nhập được thì đòi hỏi trình độ và năng lực cá nhân của con người Việt Nam. Vì vậy, sự nghiệp giáo dục phải là nền móng, cá nhân phát triển toàn diện mới đưa đất nước hoà mình vào sự phát triển chung của các nước trên thế giới. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục hết sức cần thiết đối với sự phát triển của xã hội và tăng trưởng kinh tế. Không có một xã hội văn minh, kinh tế phát triển nếu không có một nguồn nhân lực phát triển cả về thể lực lẫn trí lực.
Để đánh giá sự tiến bộ về văn hoá xã hội ngày nay người ta dựa trên các chỉ tiêu cơ bản như: thu nhập, tuổi thọ, trình độ giáo dục.Các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục- đào tạo không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Quốc gia nào có giáo dục - đào tạo tốt, trình độ cao thì đạt được năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, ngược lại nạn thất học tăng lên sẽ làm đất nước nghèo đi và lắm tệ nạn xã hội. Trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá đang mở ra trước mắt, một nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển thì đòi hỏi phải có những con người có trình độ hiểu biết thực sự. Điều này đặt ra thách thức cho Việt Nam bởi trình độ dân trí chưa cao, trình độ khoa học - kỹ thuật chưa phát triển.
Vì vậy, trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Vận mệnh của non sông, tương lai của dân tộc phụ thuộc vào giáo dục, vào việc học tập. Giáo dục đóng góp một phần lớn làm cho non sông tươi đẹp, dân tộc vinh quang. Công cuộc đổi mới ngày nay cũng vậy, nước giàu, dân mạnh , xã hội công bằng, văn minh, con người và gia đình ấm no hạnh phúc, tất cả là do bàn tay và khối óc của chúng ta.
Nói cách khác tất cả những gì gọi là nhân cách, dân trí, nhân tài đều phải tạo thành thế lực, trí lực, nói gọn lại là nhân lực và nói rộng ra là nội lực của mỗi người, của từng cộng đồng cơ sở và của cả một dân tộc. 9 Nhận thức rõ vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua đảng và nhà nước kêu gọi khuyến khích toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội và toàn dân đã tập trung sức thực hiện các mục tiêu cơ bản về giáo dục, giải quyết những vướng mắt trong từng thời kỳ, phát triển nguồn nhân lực toàn diện đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH của đất nước và yêu cầu hội nhập toàn cầu. Giáo dục không thể thực hiện được trong một thời gian ngắn mà là một quá trình gắn kết của nhiều cấp, bậc học và diễn ra trong nhiều năm.
Chúng ta cần phát triển giáo dục trên cả ba phương diện: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Điều đó đòi hỏi phải đưa sự nghiệp giáo dục phát triển trong toàn xã hội, vào mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi địa phương và áp dụng cho mọi lứa tuổi, mọi trình độ. Trong những năm qua nguồn vốn từ ngân sách nhà nước chi cho giáo dục chiếm tỷ trọng lớn và là một khoản chi quan trọng của ngân sách nhà nước( NSNN). Bên cạnh nguồn vốn từ NSNN cần tăng cường huy động thêm nguồn lực trong nhân dân, các tổ chức, doanh nghiệp để đầu tư vào sự nghiệp giáo dục.
Công tác chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước với tư cách là một phạm trù kinh tế bao giờ cũng gắn liền với sự xuất hiện, tồn tại của Nhà nước phát triển đến một trình độ nhất định. Sự xuất hiện của Nhà nước trong lịch sử đòi hỏi phải có những nguồn lực tài chính để đáp ứng chi tiêu nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Như vậy, NSNN là một kế 10 hoạch tài chính cơ bản của quốc gia, trong đó gồm kế hoạch thu, kế hoạch chi và được lập theo phương pháp cân đối (thu phải đủ chi, chi không vượt thu). Theo Luật NSNN Việt Nam thì: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Chi ngân sách nhà nước Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi của toàn bộ ngành giáo dục nhằm đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ đã đặt ra. [13] Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản chi trong nhóm chi sự nghiệp văn xã.
Là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN nhằm duy trì và phát triển sự nghiệp giáo dục theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp. [13] Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục có tính chất tích luỹ đặc biệt bởi khoản chi này là một trong những nhân tố quyết định tới tỷ lệ thất nghiệp cũng như tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Vai trò của chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục Vai trò của chi ngân sách không chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì, cũng cố các hoạt động giáo dục - đào tạo mà còn có tác dụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động giáo dục phát triển theo đường lối chủ trương của đảng và Nhà nước. Với tư cách là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, ngân sách nhà nước được phân bổ, sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và phát triển kinh tế xã 11 hội trong đó ngành giáo dục - đào tạo đang ngày được mở rộng, đầu tư đúng mức.
Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ vốn đầu tư cho giáo dục - đào tạo do NSNN đài thọ. Nguồn kinh phí này đã đóng vai trò quyết định trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, góp phần phát triển nâng cao trình độ dân trí, đào tạo ra những lớp người có đủ năng lực, trí tuệ đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngày nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế tri thức với quan điểm "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng ”, Đảng và Nhà nuớc ta đã có chủ trương " Xã hội hoá giáo dục và đào tạo ”. Gắn liền với chủ trương đó, Nhà nước thực hiện mở rộng đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục kể cả trong nước và nước ngoài " Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt nam định cư ở nước ngoài, các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục ”.
Trong điều kiện có nhiều nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo như vậy những nguồn vốn đầu tư từ NSNN vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò chủ đạo của chi NSNN cho giáo dục đào tạo được thể hiện trên các mặt sau: Thứ nhất: NSNN luôn là nguồn chủ yếu cung cấp tài chính để duy trì, định hướng sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Giáo dục, đào tạo là một lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn mà Nhà nước luôn phải quan tâm và có sự đầu tư thích đáng “NSNN giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục đào tạo ”. Chính vì vậy mà nguồn vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư cho giáo dục và đào tạo.
Mặc dù thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách để huy động nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư cho giáo dục như chính sách 12 về đóng góp học phí, lệ phí tuyển sinh, đóng góp xây dựng trường, đóng góp phí đào tạo từ phía các cơ sở sử dụng lao động, các chính sách ưu đãi về thuế, huy động các nguồn tài trợ khác cho giáo dục đào tạo. Tuy nhiên do việc xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục đào tạo thực hiện chậm, các thành phần kinh tế phi Nhà nước phát triển chưa mạnh nên sự đóng góp cho giáo dục còn hạn chế.