phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo và một số vấn đề chung của đề tài, nội dung luận văn sẽ được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của SV Học viện CSND. Chƣơng 2: Thực trạng HĐNGLL và công tác quản lý HĐNGLL của SV Học viện CSND. Chƣơng 3: Những biện pháp tăng cường hiệu quả quản lý HĐNGLL của SV Học viện Cảnh sát nhân dân. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA CỦA HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LÓP 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.Trên thế giới HĐNGLL là một nội dung quan trọng trong trương trình giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới. Hoạt động này được chú trọng nghiên cứu và thực hiện như một công cụ hữu ích để giúp cho HS, SV học tập có kết quả hơn và phát triển toàn diện hơn nhân cách của các em. Khi nghiên cứu về các HĐNGLL các nhà giáo dục học trên thế giới đã thể hiện rõ quan điểm về ý nghĩa to lớn của HĐNGLL đối với sự phát triển toàn diện nhân cách HS, SV trong đó: Nhà sư phạm người nga T.smiêcnôva cho rằng: HĐNGLL (ngoại khóa) để thu hút học sinh, làm cho họ hứng thú và đi đến kết luận rằng ngoại khóa cần được suy nghĩ kỹ và tiến hành ở tất cả các lớp trong hệ thống giáo dục mà không được mang tính chất thất thường.Cômen xki – ông tổ của nền sư phạm cận đại trong thời gian làm cố vấn giáo dục tại Hung ga ri đã rất coi trọng HĐNGLL. Thời kỳ đó Ông đã áp dụng phương pháp dạy học mới, mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện cá tính cho học sinh, đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới này [12].Côpchiêva xem hoạt động ngoại khóa là để nâng cao đạo đức và năng khiếu mọi mặt của học sinh.Côpchiêva kết luận: “Công việc ngoại khóa nếu được tiến hành có hệ thống không những nâng cao trình độ chung về sự tiến bộ của học sinh mà còn cả về trình độ ngôn ngữ, kiến thức của các em” [33].
Ở nhật bản HĐNGLL cũng rất được coi trọng ở trường học. Học sinh nhật bản dành rất nhiều thời gian cho hoạt động này vì hầu hết các trường ở nhật là các trường bán trú. Chương trình cải cách giáo dục của nhật bản giảm bớt thời lượng các giờ lên lớp để tăng cường nhiều hơn cho các HĐNGLL cho học sinh. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các công trình nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục Mĩ cho thấy tác dụng to lớn của các HĐNGLL đối với HS, SV: có 49% HS, SV sử dung ma túy không tham gia vào các HĐNGLL, 37% trong độ tuổi 13-19 phải làm bố mẹ sớm hơn những em khác thường xuyên tham gia từ 1đến 4 giờ trong ngày vào các HĐNGLL.
Những học sinh thường xuyên tham gia vào các chương trình HĐNGLL có chất lượng, thường có thành tích trong học tập cao hơn, có hành vi đạo đức tốt hơn trong nhà trường, có mối quan hệ và xúc cảm mạnh hơn, phát triển tốt hơn và không có các hiện tượng sử dụng ma túy, bạo lực. Như vậy, các công trình nghiên cứu, các quan điểm trên đã làm nổi bật tầm quan trọng của các HĐNGLL và đã chỉ ra một số biện pháp cho các nhà quản lý giáo dục phải làm gì để tổ chức và quản lý tốt các hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục.Trong nước Trong nước sự nghiệp giáo dục- đào tạo qua các giai đoạn phát triển khác nhau, tư tưởng giáo dục toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta là kim chỉ nam cho đường lối phát triển giáo dục. Ở các giai đoạn lịch sử phát triển của của cách mạng Việt Nam, giáo dục của chúng ta luôn chú trọng đến sự phát triển toàn diện nhân cách cho thế hệ trẻ, cho HS, SV. Những tư tưởng đó được thể hiện đầy đủ, rõ ràng trong nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”.
Tư tưởng giáo dục toàn diện còn được thể hiện qua các mặt: Đức- Trí- Thể- Mỹ - Lao động nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách HS, SV. Các tư tưởng, quan điểm trên đã khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của HĐNGLL trong giáo dục nhà trường. Một số các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến HĐNGLL như: Hai tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn giáo dục học đã đề cập và nhấn mạnh đến vai trò và tác dụng của các hình thức HĐNGLL, coi đây là một trong những hoạt động giáo dục, dạy học tạo hứng thú cho HS, SV giúp các em mở rộng, nâng cao, khắc sâu kiến thức được tốt hơn. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Phạm Lăng khi tìm hiểu HĐNGLL ở trường Chu Văn An - Hà Nội cho rằng: Nếu tổ chức nhiều hình thức của hoạt dộng này một cách khoa học sẽ không làm giảm đi chất lượng của các môn học.
Tác giả Nguyễn Văn Thiềm khẳng định chất lượng học sinh nhà trường giảm sút có nguyên nhân từ việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bị buông lỏng.[28] Như vậy các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều đề cao vai trò, vị trí quan trọng của HĐNGLL trong quá trình dạy học và giáo dục HS, SV. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm quản lý Từ xa xưa đến nay trong xã hội loài người đã xuất hiện một dạng hoạt động xã hội đặc thù đó là “Quản lý”. Thuật ngữ “Quản lý” được hiểu và được định nghĩa theo theo nhiều cách khác nhau, trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau: - Cách tiếp cận theo thực tiễn: đây là cách tiếp cận trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm mà thông thường là thông qua các trường hợp cụ thể.
Qua việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc là thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự. - Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: người ta đã dựa trên những ý tưởng cho rằng: quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người. Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “Con người nên hiểu con người”.
Với học thuyết này giúp cho người quản lý ứng xử 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền. Thay vì quá chú trọng tới các chức năng của người quản lý, thuyết này đã hướng dẫn “cách” người quản lý thực hiện “cái” họ phải làm. - Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: Cách tiếp cận này cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định. Sau đây là một số quan điểm và định nghĩa về quản lý của các nhà khoa học: K.Marx viết: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng có một sự chỉ đạo, để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung.
Phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ sở sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [34]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Xét trên phương diện hoạt động của một tổ chức thì: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [29].
Như vậy, quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thay đổi tích cực, để đạt được mục đích của chủ thể quản lý. Hay là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó; điêu tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận… 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái quát quá trình quản lý được thể hiện bằng sơ đồ sau đây: Chủ thể quản lý Mục tiêu Đối tƣợng quản lý Sơ đồ 1.
Sơ đồ khái quát quá trình quản lý *Chức năng của quản lý: Có nhiều quan điểm về phân chia chức năng quản lý khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất trên 4 chức năng cơ bản sau đây: -Chức năng kế hoạch hóa: “kế hoach hóa là một chức năng quản lý. Kế hoach hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của một tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó”. [22] Chức năng kế hoạch hóa gồm 3 nội dung chủ yếu sau đây: + Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức. + Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này.
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Có 3 loại kế hoạch sau: + Kế hoạch chiến lược + Kế hạch chiến thuật + Kế hoạch tác nghiệp.