Chương 1: Cơ sở lý luận về QL công tác SV ở trường đại học. - Chương 2: Thực trạng QL công tác SV của Trường ĐH Văn Hiến. - Chương 3: Các biện pháp QL công tác SV tại Trường ĐH Văn Hiến trong giai đoạn hiện nay. Tài liệu tham khảo.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Song song với sự ra đời của hoạt động GD trong quá trình phát triển của lịch sử là sự ra đời của hoạt động QL GD bên bên cạnh sự ra đời của khoa học về QL GD. Người học là trung tâm của NT, là một trong những đối tượng của đào tạo, đồng thời cũng là mục tiêu của đào tạo. Điều 2 Luật GD Việt Nam nêu rõ: “Mục tiêu GD là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp …” [29].
QL công tác SV tại các cơ GD nói chung, các trường ĐH và cao đẳng nói riêng đã được nhiều cá nhân, tổ chức tiến hành nghiên cứu ở nhiều cấp độ, trên nhiều phương diện với mục đích chung là những tác động tới đối tượng được GD, được đào tạo ở bậc ĐH. Do đó, vấn QL công tác SV ở các trường ĐH đã được nhiều nhà khoa học, nhà QL GD nghiên cứu ở nhiều công trình, bài viết khác nhau. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở một số nước trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc…thì các nghiên cứu về người học chủ yếu tập trung vào việc việc hình thành, phát triển nhân cách phù hợp với mức độ tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng và tính chất của các mối quan hệ của người học đối với XH, với gia đình. Dù có khác nhau về mức độ phát triển kinh tế - XH, quan điểm chính trị, quan điểm GD, quan điểm tôn giáo nhưng tất cả điều quan tâm đến vấn đề QL người học.
Đối với việc QL người học theo quan điểm của các nước của hệ thống XH chủ nghĩa trước đây. Tính chất tập trung, hành chính, bao cấp trong QL người học nói chung và đối với SV đã phát huy tác dụng trong một giai đoạn lịch sử tương ứng và hiện nay đang được đổi mới để phù hợp sự phát triển của nền kinh tế - chính trị của mỗi quốc gia, tiếp cận với quá trình hội nhập quốc tế. Trong công tác QL học sinh - SV được xác định một cách chặt chẽ trong hệ thống công tác QL của các cơ sở GD đào tạo dù là trường công lập, tư thục, của trung ương hay của địa phương. Bên cạnh những quy định mang tính pháp lý đối với người học, công tác QL người học được thông qua các chương trình GD chính trị.
Bằng môn GD công dân, các môn học được tích hợp và hoạt động trải nghiệm, hoạt động XH, học sinh - SV Nhật Bản được GD về ý thức trách nhiệm của công dân, về phẩm chất của người viên chức, về ý thức công cộng (ý thức chấp hành giao thông, ý thức giữ gìn vệ sinh, ý thức đối với những người xung quanh,. Chính vì SV Nhật Bản được rèn luyện, GD từ trong NT, trở thành những công dân, những lao động có tinh thần trách nhiệm với đất nước, với XH, với cộng đồng mẫu mực, tiêu biểu nhất thế 7 giới. Trên thực tế việc QL người học nói chung và SV trong các trường ĐH – CĐ của các nước trên thế giới đã có những quá trình phát triển từ lâu. Từ những kết quả nghiên cứu, những giải pháp, cách thức trong QL người học của các nước đó đã thể hiện quan điểm chính trị, quan niệm tôn giáo bản sắc văn hóa dân tộc, cũng như những tập quán, thói quen của XH.
Đó cũng là cơ sở để trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện GD - đào tạo, chúng ta chọn lọc những bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả công tác QL SV trong các trường ĐH – CĐ hiện nay. Các nghiên cứu ở Việt Nam Một trong các yêu cầu bức thiết đặt ra để nâng cao chất lượng công tác đào tạo là QL người học như thế nào để đạt được hiệu quả và mục tiêu GD. Công tác SV là một trong những mãng nội dung nội dung có vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT NT. Để phát triển kinh tế - XH của đất nước, trước hết cần phải chú trọng xây dựng các chiến lược về đào tạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả cao trong việc tổ chức đào tạo và phát triển toàn diện về mặt con người trong XH.
Do đó, sự kết hợp giữa NT - gia đình - XH là sự kết hợp rất cần thiết, cần có sự liên kết chặt chẽ trong GD SV. Quan điểm và mục tiêu GD ở Việt Nam là đào tạo những con người có đức, trí, thể, mỹ, việc QL người học trong NT Việt Nam đã được quan tâm từ lâu. Trong cuộc cải cách GD lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba, và công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GD - đào tạo hiện nay, là một vấn đề này được coi trọng, bổ sung, phát triển để phù hợp với từng giai đoạn. Vì vậy, công tác QL người học nói chung và QL SV nói riêng, đã được xem xét, nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau.
Ngày 29 tháng 11 năm 2012, Bộ GD-ĐT đã ban hành Chương trình Công tác học sinh, SV các trường ĐH, CĐ và TCCN giai đoạn 2012 – 2016, trong đó nhấn mạnh việc đổi mới căn bản và toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XH hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt coi trọng 9 công tác GD tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức chấp hành pháp luật, chăm sóc sức khỏe, thể chất, GD truyền thống lịch sử cách mạng, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm XH của SV. Đồng thời phải chuẩn hóa nội dung, phương pháp công tác SV ở các đại học, học viện, trường ĐH, trường CĐ và trường TCCN; phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, năng động, sáng tạo của SV trong quá trình học tập và rèn luyện [7]. Công tác SV trong nhiều năm qua được Bộ GD&ĐT, các cấp QL GD đặc biệt quan tâm, nhiều quy chế, quy định liên quan đến công tác SV được ra đời, cụ thể như: Quyết định 42/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 13/8/2007 về việc ban hành Quy chế HSSV các trường ĐH, CĐ và TCCN hệ chính quy; Thông tư số 10/2016/TT-BGDĐT, ngày 5/4/2016 về việc ban hành Quy chế CTSV đối với chương trình đào tạo ĐH hệ chính quy; Quyết định 16/2015/TT-BGDĐT, ngày 18/02/2015 về việc ban hành Quy chế 8 đánh giá kết quả rèn luyện của người học được đào tạo hệ ĐH chính quy; Thông tư số 27/2009/TT-BGDĐT, ngày 19/10/2009 về việc ban hành Quy chế ngoại trú của HSSV các trường ĐH, CĐ và TCCN hệ chính quy; Thông tư số 27/2011/TT-BGDĐT, ngày 27/6/2011 về việc ban hành Quy chế HSSV nội trú tại các cơ sở GD thuộc hệ thống quốc dân; Quyết định 46/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 20/8/2007 về việc ban hành Quy định về công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn XH trong các cơ sở GD thuộc hệ thống GD quốc dân; Quyết định 50/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 29/8/2007 về việc ban hành Quy định về công tác GD phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV trong các ĐH, học viện, CĐ, TCCN; Quyết định 68/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 19/12/2008 về việc ban hành Quy định về công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm trong các cơ sở GD ĐH, TCCN; Thông tư số 10/2016/TT-BGDĐT, ngày 05/2/2016 về việc Ban hành Quy chế SV đối với chương trình đào tạo ĐH hệ chính quy… Trong những năm vừa qua đã có một vài công trình nghiên cứu, đề tài, luận văn, luận án cũng đã đề cập đến công tác QL người học nói chung và QL SV ở trường CĐ – ĐH nói riêng như: Tác giả Phan Thanh Phú (2010) đã nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác QL HSSV ở Trường Đại học Quảng Nam”. Trong đề tài của mình, tác giả đã đi sâu nghiên cứu các giải pháp tổng thể từ cơ sở vật chất, công tác nội ngoại trú nhằm GD SV có ý thức tự giác chủ động trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện, không chỉ nắm vững kiến thức chuyên môn nghề mà còn nâng cao phẩm chất, đạo đức, tư tưởng, tác phong nghề nghiệp phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [27]; Đặng Xuân Hải (2012), QL GD, QL NT trong bối cảnh thay đổi.
NXB GD, Hà Nội; Lê Quang Sơn (2014), Tâm lý học QL, ĐH Sư phạm Đà Nẵng; Đặng Quốc Bảo (2008), Cẩm nang nâng cao năng lực QL NT, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Trọng Anh (2008), Các biện pháp tăng cường QL công tác GD đạo đức cho SV trường ĐH TDTT Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ QL GD, Trường ĐH Sư phạm - ĐH Đà Nẵng. Như vậy, thực tế nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy đã có nhiều tác giả đã có những tiếp cận và nghiên cứu, cũng như tìm hiểu về thực trạng QL công tác SV ở các trường ĐH từ nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu thực trạng QL công tác SV tại Trường ĐH Văn Hiến trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn hoạt động của NT, tính thiết yếu của vấn đề trên, tác giả nghiên cứu đề tài “Quản lý công tác sinh viên tại Trƣờng Đại học Văn Hiến” nhằm mục đích góp phần cùng NT nâng cao chất lượng GD, đào tạo của NT nơi bản thân đang công tác.
Một số khái niệm cơ bản 1. Công tác sinh viên 1. Sinh viên Theo Luật GD 2005 (bổ sung 2009) và Quy chế Công tác HSSV do Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo quyết định số 42/2007/QĐBGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 thì 9 những người đang học trong các trường thuộc hệ ĐH, CĐ và TCCN được gọi là SV [29]. Điều này cũng được khẳng định trong Quy chế CTSV đối với chương trình đào đạo ĐH hệ chính quy vừa mới được ban hành trong năm 2016 (Thông tư số 10/2016/TT-BGDĐT, ngày 05/2/2016 về việc Ban hành Quy chế SV đối với chương trình đào tạo ĐH hệ chính quy) [12].
Trong giới hạn của đề tài, tác giả chỉ xác định đối tượng là SV đang theo học hệ ĐH chính quy đang học tập tại Trường ĐH Văn Hiến nói riêng, SV hệ ĐH chính quy nói chung.