CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề KNHT là một trong những kỹ năng rất cần thiết của mỗi con người trong thời kì hội nhập. Các chuyên gia của nước ngoài rất coi trọng con người Việt Nam bởi sự thông minh và cần cù… Tuy nhiên người Việt Nam lại chưa thực sự thành công bởi lẽ chúng ta còn hạn chế sự hợp tác trong công việc và cuộc sống, chưa biết làm việc theo êkip, chưa thực sự biết liên kết với nhau để tạo thành sức mạnh. Do ảnh hưởng của Nho giáo phong kiến, nên việc hình thành các kĩ năng cho trẻ ở Việt Nam còn mang tính áp đặt, khuôn mẫu, hạn chế.
Đối với xã hội hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, giao lưu giữa các nước trên thế giới mở rộng, điều đó bắt buộc con người phải có khả năng hợp tác một cách linh hoạt trên tất cả các lĩnh vực, phải chủ động đến việc hình thành kĩ năng. KNHT không chỉ dừng lại ở trong dạy học, giáo dục nhân cách cho người học. Kĩ năng là chất lượng cá nhân ở dạng hiện thực và dạng tiềm năng đảm bảo cho cuộc sống cá nhân luôn phát triển và không ngừng hoàn thiện trong quan hệ cộng đồng. KNHT giúp con người giải quyết mọi công việc một cách nhanh chóng, hiệu quả, biết giải quyết các vấn đề theo hướng tích cực, biết chia sẻ, lắng nghe và chấp nhận người khác.
Đồng thời kĩ năng này được hình thành ngay ở lứa tuổi mầm non nhằm phát triển nhân cách con người một cách hoàn thiện. Để tồn tại và phát triển, từ bao đời nay mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng dù muốn hay không vẫn không ngừng hợp tác với nhau để chinh phục thiên nhiên hay giải quyết các vấn đề xã hội. Thực tế lịch sử cho thấy có nhiều cộng đồng mặc dù thiếu tài nguyên nhưng vẫn phát triển rất nhanh và ngược lại nhiều cộng đồng sở hữu tài nguyên phong phú nhưng vẫn rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển. Nguyên nhân dẫn đến thành công thì có nhiều nhưng có thể nói rằng, tất cả các cộng đồng rơi vào tình trạng biệt lập đều kém phát triển, nghèo nàn và lạc hậu, còn những cộng đồng phát triển đều biết hợp tác và hiện hợp tác ở mức độ rất cao với các cộng đồng khác.
Điều cần nói là xã hội loài người hiện đã phát triển đến trình độ cao, với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức, con người không thể hợp tác 6 một cách rời rạc và nhiều khi là do tình thế thúc ép không như trước nữa. Ngày nay, hợp tác không chỉ là nhu cầu tăng thêm sức lực hoặc trí thức để hoàn thành những mục tiêu chung, mà quan trọng hơn là mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng ngày càng trở nên lệ thuộc vào nhau. Vì vậy nhu cầu hợp tác đã trở nên bức thiết với mọi cá nhân và cộng đồng. Cự tuyệt hợp tác hoặc thiếu KNHT đồng nghĩa với việc trì trệ và kém phát triển.
Cuộc sống mới đòi hỏi phải nhận thức lại vai trò và khả năng hợp tác như là một giải pháp chủ yếu để nhân loại chung sống và phát triển. Ngay từ xưa con người đã biết sống cùng nhau và nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển, biết giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau hoàn thành mọi công việc trong cuộc sống. Vì vậy, KNHT rất cần thiết đối với cuộc sống của con người. Ông cha ta đã nhấn mạnh sức mạnh của việc gắn kết với nhau cùng nhau làm việc, điển hình như câu truyện “bó đũa”.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài xoay quanh hoặc liên quan đến vấn đề KNHT. Các công trình nghiên cứu trên thế giới * Nghiên cứu về ý nghĩa, tầm quan trọng của KNHT Trong lịch sử đã từng có những triết học về sự sinh tồn, chẳng hạn như thuyết Darwin xã hội, các tư tưởng cực đoan của Quốc xã, đưa ra luận điểm rằng để sinh tồn một cá nhân hoặc cộng đồng này phải loại trừ cá nhân hoặc cộng đồng khác. Thậm chí đã có thời người ta chủ trương rằng để phát triển giai cấp này phải triệt tiêu giai cấp kia. Thực chất đó là triết học của sự loại trừ và chia rẽ, nó ủng hộ một thực thể này chống lại một thực thể khác.
Triết học này không phải gì khác ngoài sự biện minh cho các cuộc chiến tranh và thực chất là thứ triết học chống lại con người, triết học sai lầm này đã đưa nhiều cộng đồng vào ngõ cụt và mang lại những hậu quả bi thảm trong lịch sử nhân loại. Thực tế cho thấy mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng phát triển không phải bằng sự loại trừ cá nhân và cộng đồng (những đối thủ) mà ngược lại phải hợp tác hiệu quả nhất với cá nhân và cộng đồng khác (những đối tác). Theo họ, nhân loại cần một triết học mới, triết học về sự hợp tác nhân loại, bởi bản chất của tự nhiên là hợp tác chứ không phải loại trừ và chia rẽ. Triết học hợp tác là triết học của sự hòa bình và phát triển, nó giúp cho mỗi cộng đồng biết cách cùng nhau chung sống và kiến tạo tương lai và vì vậy có thể nói triết học hợp tác chính là triết học nhân văn, hiện đại.
Để lí giải vấn đề quan trọng là tại 7 sao khả năng hợp tác của một cá nhân hay một cộng đồng nào đó lại kém hơn so với các thực thể khác, chúng ta cần xem xét bản chất của hợp tác dưới góc độ triết học của nó. * Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến KNHT Năm 1990, các tác giả R.Johnson nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KNHT, các ông đưa ra cốt lõi của KNHT. - Yếu tố thứ nhất: Sự phụ thuộc tích cực vào nhau: Trong quá trình làm việc cùng nhau trẻ nhận ra “cùng hội cùng thuyền”. Vì vậy các thành viên trong nhóm phải gắn kết với nhau theo cá nhân cũng như toàn nhóm.
Nhóm chỉ có thể thành công nếu các thành viên cố gắng hết mình. Trong quá trình làm việc cùng nhau, trẻ có 2 nhiệm vụ chính: Hoàn thành nhiệm vụ được giao và giúp đỡ các thành viên khác hoàn thành nhiệm vụ. - Yếu tố thứ 2: Sự tương tác mặt đối lập: Làm việc cùng nhau đòi hỏi phải có sự trao đổi qua lại tích cực giữa các thành viên độc lập trong nhóm. Điều đó được thực hiện khi các thành viên trong nhóm nhìn thấy nhau trong quá trình trao đổi.
Sự tương tác đối mặt có tác dụng tích cực đối với trẻ như tăng cường động cơ học tập, nảy sinh hứng thú mới, kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng, tình cảm, giải quyết các vấn đề, tăng cường các kĩ năng xã hội, biết bày tỏ thái độ, phản hồi bằng các hình thức: Lời nói, cử chỉ, nét mặt… Điều này cũng được tác giả Ronald L.Anatol nhấn mạnh trong tác phẩm “The process of group” - Yếu tố thứ 3: Trách nhiệm cá nhân cao: Nhóm cần phải được tổ chức sao cho các thành viên trong nhóm không trốn tránh công việc hoặc học tập. Mỗi thành viên thực hiện một công việc nhất định. Các vai trò ấy được luân phiên thường xuyên trong các nội dung hoạt động khác nhau. Mỗi thành viên phải hiểu rằng không thể dựa vào công việc của người khác.
-Yếu tố thứ 4: Kĩ năng hợp tác nhóm nhỏ: Trẻ biết tham gia và hoạt động nhóm, không bỏ nhóm, kĩ năng giao tiếp: Biết chờ đợi, luân phiên đến lượt, xử lý thông tin. Kĩ năng xây dựng niềm tin như bày tỏ sự ủng hộ bằng ánh mắt, nụ cười, yêu cầu giải thích và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Kĩ năng giải quyết các bất đồng, xung đột như kiềm chế, không xúc phạm người khác. 8 - Yếu tố thứ 5: Nhận xét nhóm: Yếu tố này giúp cho bản thân trẻ nhận được những ưu điểm và khuyết điểm của người khác cũng như chính bản thân mình.
* Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc hợp tác Khi làm việc cùng nhau, Hirokawa cũng đưa ra những lưu ý: - Quy tắc nhóm khi hợp tác: Nếu không có quy tắc sẽ dẫn đến sự căng thẳng, giận dữ, mâu thuẫn và cuối cùng là xung đột. - Sự căng thẳng: trong khi làm việc cùng nhau, khi những nhu cầu cá nhân không được thỏa mãn, chắc chắn sẽ dẫn đến căng thẳng. Chúng ta cần nhận thức rõ vấn đề này để tránh được những xung đột, căng thẳng ở trẻ. Mặt khác khi làm việc cùng nhau sẽ là nơi giúp chúng ta có trách nhiệm chia sẻ, an ủi những người khác.
Điều này sẽ giúp thúc đẩy, giải quyết các vấn đề nhưng chỉ khi các thành viên chú tâm đến cảm xúc của họ. Sự giận dữ sẽ làm hỏng nỗ lực của cả nhóm. Để giúp các thành viên có thể kiểm soát được cảm xúc của mình, Carolyn C.Clark và Richard W.Sline đã chỉ ra hai vấn đề: Một là hiểu được mỗi người có trạng thái khác nhau, hai là cảm xúc phải rõ ràng. - Xung đột và tranh luận có thể sảy ra bất cứ lúc nào, mục đích tiêu chuẩn hay quan điểm giữa các thành viên trong nhóm.
Xung đột không sâu nhưng chúng ta khó tránh nó bởi chúng ta ngại bất lợi nếu cuộc tranh luận không ngự được. Nếu mâu thuẫn không giải quyết được thì nó sẽ theo suốt cuộc thảo luận và cản trở sự hoàn thành mục tiêu của cả nhóm.Erbert đưa ra một vài yêu cầu để giải quyết mâu thuẫn: + Trong tương lai cần phải thúc đẩy giáo dục việc giải quyết mâu thuẫn + Thúc đẩy sự giao tiếp + Kiểm soát tâm trạng trong xung đột + Can thiệp của người thứ ba để việc kiểm soát tốt hơn + Bản chất của sự xung đột nó mang nhiều màu sắc văn hóa khác nhau, nên cần tôn trọng sự khác biệt nền văn hóa đó.Anato cho rằng: Giải quyết xung đột như là quá trình làm việc theo nhóm mà trong đó là quá trình hợp tác với nhau, 1. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam * Nghiên cứu tầm quan trọng KNHT ở Việt Nam 9 Một cộng đồng nào đó muốn hợp tác với chúng ta trước hết vì quyền lợi riêng của họ, để thu hút được họ chúng ta phải trở nên thực sự hấp đẫn, phải chứng tỏ được rằng các cộng đồng đối tác sẽ được lợi nếu họ hợp tác với chúng ta. Vậy cái gì làm nên sự hấp dẫn của một cộng đồng ? Về bản chất sự hấp dẫn của một thực thể là cái đẹp của chính thực thể ấy.