Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC BỒI DƢỠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu Để làm cơ sở lý luận của đề tài, cần làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài. Khái niệm về quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Lao động muốn đạt hiệu quả, năng xuất cao thì đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh.
Hoạt động quản lý là hoạt động của ngƣời lãnh đạo phối hợp và phát huy hết sức mạnh của các thành viên trong nhóm, trong tổ chức hoặc trong hệ thống để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Khoa học quản lý có lịch sử lâu đời và phong phú, với những học thuyết quản lý đƣợc hình thành từ các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau, tôi xin điểm qua một số tác giả của các học thuyết tiêu biểu, đặc biệt các học thuyết còn ảnh hƣởng tới ngày nay. Tƣ tƣởng quản lý phƣơng Đông cổ đại: ở phƣơng Đông cổ đại, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ đã sớm xuất hiện những tƣ tƣởng về quản lý. Đó là tƣ tƣởng về pháp trị của Khổng Tử (551 – 479 TCN); Mạnh Tử (372 – 289 TCN); Hàn Phi Tử (280 – 233 TCN).
mà theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu hiện đại những tƣ tƣởng này vẫn còn ảnh hƣởng sâu sắc đến phong cách quản lý và văn hoá của nhiều nƣớc ở Châu Á, nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Ngay từ cổ xƣa, Khổng Tử đã đề cao và xác định rõ vai trò cá nhân của ngƣời quản lý, ông quan niệm: Ngƣời quản lý mà chính trực thì không cần phải tốn nhiều công sức mà vẫn điều khiển đƣợc ngƣời ta làm theo. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tƣ tƣởng quản lý phƣơng Tây cổ đại: Điển hình là Xôcrat và Platon; vào thế kỷ IV- III TCN nhà triết học Xôcrat cho rằng: Những ngƣời nào biết cách sử dụng con ngƣời sẽ điều khiển công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt. Vào thế kỷ XVI ở phƣơng Tây có những nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu nhƣ: Robert Owen (1771 – 1858); Charles Babbage (1792 – 1871); H.
Marx cũng đã nêu ý tƣởng của ông: “ Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều phải có một sự chỉ đạo để điều hoà sự hoạt động. Sự chỉ đạo đó phải làm chức năng chung tức là chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa vận động chung của cơ thể sản xuất với những hoạt động cá nhân của những khi quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhƣng một dàn nhạc thì cần có nhạc trƣởng“ [2, tr. Các nhà lý luận quản lý quốc tế nhƣ: Fredrich Wiliam Taylor (1856 – 1915) Mỹ; Henri Fayol (1841 – 1925) Pháp; Max Weber (1964 – 1920) Đức đều đã khẳng định: “ Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội “.
Trong khoa học quản lý, khái niệm quản lý đƣợc nêu: Quản lý hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm phối hợp hành động của một nhóm ngƣời hay một cộng đồng ngƣời để đạt đƣợc các mục tiêu đề ra một cách hữu hiệu. Theo từ điển Tiếng Việt: “ Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định “ [4, tr. Theo Harol Koontz: “ Quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm sự nỗ lực của cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức “[5, tr. Taylor khẳng định: “ Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất “[6, tr.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Robbins – Wayned Morrison cho rằng: “ Quản lý là một nghề nhƣng cũng là một nghệ thuật, một khoa học “[1, tr. Follet cho rằng: “ Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc của mình đƣợc thực hiện thông qua ngƣời khác “. Một số tác giả Việt Nam quan niệm về quản lý: “ Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung, là khách thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung, là khách thể quản lý nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến“.
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể lên đối tƣợng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt đƣợc mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến chuyển của môi trƣờng “[9, tr. Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: “ Quản lý là một nghệ thuật đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hƣớng dẫn, chỉ huy hoạt động của những ngƣời khác “[8, tr. Theo GS Mai Hữu Khuê: “ Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những ngƣời lao động nhằm đạt đƣợc những kết quả nhất định và mục đích đã định trƣớc “[10, tr. Theo GS Đặng Vũ Hoạt và GS Hà Thế Ngữ: “ Quản lý là một quá trình có định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trƣng cho trạng thái mới của hệ thống mà ngƣời quản lý mong muốn” [11, tr. Trong giáo trình khoa học quản lý (1999) đã ghi rõ: “ Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những ngƣời cộng sự khác cùng chung một tổ chức “. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “ Hoạt động quản lý là sự tác động có định hƣớng, có chủ định của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức“[19]. Hoạt động quản lý bao gồm hai quá trình luôn luôn đan xen và hoà quyện nhau: “ Quản “ là quá trình bao hàm sự coi sóc, gìn giữ nhằm duy trì hệ thống ở trạng thái “ ổn định “.
“ Lý “ là quá trình bao hàm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới nhằm đƣa hệ thống vào thế “ Phát triển “. Nếu trong hoạt động quản lý, nhà quản lý chỉ chú trọng đến “ Quản “ thì tổ chức dễ dẫn đến trì trệ, bảo thủ. Ngƣợc lại nếu chỉ chú trọng đến “ Lý “ thì tổ chức lại dễ rơi vào thế mất cân bằng, bất ổn định. Chính vì vậy ngƣời quản lý phải luôn xác định và phải biết điều phối sao cho trong “ Quản “ phải có “ Lý “ và trong “ Lý “ phải có “ Quản “, nhƣ thế trạng thái của hệ thống tổ chức luôn ở vị trí cân bằng động.
Quản lý chính là quá trình giữ gìn sự ổn định để phát triển và sự phát triển luôn tạo ra thế ổn định của hệ thống, tổ chức. Những quan niệm về quản lý đều có điểm thống nhất về bản chất của hành động quản lý đó là cách tổ chức quản lý của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra. Chức năng của quản lý: Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý đặc biệt mà thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định. Chức năng quản lý bao gồm: + Lập kế hoạch: Là chức năng cơ bản nhất nhằm xác định rõ mục đích, mục tiêu đối với thành tựu tƣơng lai của tổ chức và những quy định, biện pháp, 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách thức để đƣa tổ chức đạt đƣợc những mục tiêu đó.
Lập kế hoạch chính là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện đƣợc các mục tiêu. + Tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức và xây dựng chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của từng bộ phận sao cho nhờ cấu trúc đó chủ thể quản lý tác động lên đối tƣợng quản lý một cách có hiệu quả nhằm thực hiện đƣợc mục tiêu kế hoạch.Lênin đã chỉ rõ: “ Liệu một trăm có mạnh hơn một nghìn khống? có chứ ! khi một trăm đƣợc tổ chức lại, tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên mƣời lần”. + Biên chế cán bộ: Là việc xắp xếp các cƣơng vị trong cơ cấu tổ chức, qua việc xác định những đòi hỏi về nhân lực cần tuyển dụng, sắp xếp, đề bạt, đánh giá, bồi dƣỡng và đào tạo. + Chỉ đạo: Khi kế hoạch đã đƣợc thiết lập, cơ cấu bộ máy đã đƣợc hình thành, nhân sự đã đƣợc tuyển dụng và sắp xếp thì phải có ngƣời đứng ra lãnh đạo dẫn dắt tổ chức.
Chỉ đạo là quá trình tác động đến con ngƣời để họ hoàn thành những nhiệm vụ đƣợc phân công, đạt đƣợc các mục tiêu. + Kiểm tra: là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi nhƣ không lãnh đạo. Kiểm tra là đánh giá, phát hiện và điều chỉnh những kết quả hoạt động của tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị, hoàn thành kế hoạch đã đề ra.
Nói một cách tổng quát, có thể xem quản lý là: Một quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung. Ý nghĩa của quản lý: 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Là sự tính toán hợp lý, khoa học khi sử dụng các nguồn lực, các biện pháp, đảm bảo cho hoạt động của bộ máy ăn khớp, nhịp nhàng giúp cho việc nâng cao năng xuất lao động để đạt mục tiêu chung của tổ chức. + Đảm bảo trật tự kỷ cƣơng của bộ máy thông qua việc đƣa ra những quy định có tính pháp lý nhƣ luật, quy chế, nội quy. + Là nhân tố của sự phát triển: Nếu quản lý tốt dựa trên những căn cứ và công cụ vững chắc sẽ thúc đẩy sự phát triển của tổ chức.