Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC KHỐI ĐẢNG, ĐOÀN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Quản lý bồi dưỡng cán bộ, công chức khối Đảng, Đoàn tỉnh Bắc Kạn” cho thấy các nhà khoa học và các tác giả tiếp cận theo nhiều cách, nhiều cấp độ khác nhau. Có thể khái lược thông qua những công trình tiêu biểu như sau: Theo PGS Nguyễn Phú Trọng- Trần Xuân Sầm (2003), “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [22]. Tác giả cuốn sách đã phân tích những vấn đề lý luận và phương pháp luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng đội ngũ CBCC trong lịch sử nước ta và một số nước trên thế giới; đánh giá về thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay; đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ CNH- HĐH.
Tháng 11/1998 Hội thảo khoa học “Chiến lược xây dựng đội ngũ CBQL phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH” đã mở ra bước ngoặt quan trọng trong việc nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng phát triển đào tạo xây dựng đội ngũ CBQL giáo dục có phẩm chất, có tầm nhìn, có khả năng dự báo, phân tích, có kỹ năng, có phong cách đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Có thể kể tên các công trình nghiên cứu khác liên quan đến hoạt động ĐTBD CBCC như: Tác giả Lưu Kiếm Thanh với bài: “Đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức một hình thức giáo dục- đào tạo đặc thù và chuyên biệt”; Tác giả Đinh Văn Tiến, Thái Vân Hà với bài “Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong tình hình mới”; Tác giả Ngô Thành Can với bài “Những yêu cầu cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”; Lại Đức Vượng, Vụ Đào tạo- Bộ Nội vụ khi “Bàn về chức năng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”.S Phạm Hữu Kha (2000) 6 với đề tài “Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị- xã hội ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới”. TS Nguyễn Hữu Cát (2000), “Một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay”…[2] Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay" [25] của tác giả Lại Đức Vượng đã phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLNN về ĐTBD công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay; đánh giá, đưa ra kết luận về thực trạng ĐTBD công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay; từ đó xác định mục tiêu, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nước về ĐTBD công chức hành chính Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục “Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học tại Trung tâm GDTX tỉnh Thái Nguyên" của tác giả Nguyễn Thị Nga đã đi sâu phân tích thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý hoạt động này và đề xuất các biện pháp phù hợp, đảm bảo tính khoa học để nâng cao chất lượng quản lý các hoạt động bồi dưỡng của loại hình Trung tâm[15].
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn tập trung vào vị trí, vai trò, chức năng, tâm lý của người cán bộ quản lý, mô hình quản lý trường học, quản lý sự thay đổi như: “Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI” của tác giả Vũ Ngọc Hải và Trần Khánh Đức, ngoài những nghiên cứu chung về quản lý giáo dục, nhiều tác giả đã có những nghiên cứu chuyên sâu về từng lĩnh vực quản lý giáo dục như: Đặng Quốc Bảo “Quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo” nghiên cứu về quy trình quản lý của hiệu trưởng trường trung học, tài chính trong giáo dục; Nguyễn Thị Mỹ Lộc nghiên cứu về văn hóa giao tiếp của cán bộ quản lý giáo dục xây dựng cơ quan thành tổ chức biết học hỏi; Lê Quang Sơn nghiên cứu về tâm lý người lãnh đạo, quản lý; Phùng Đình Mẫn nghiên cứu về tâm lý học lứa tuổi. 7 Ngoài ra còn có: “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của quản lý, quản lý giáo dục, các đối tượng của khoa học quản lý giáo dục; Tác giả Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị “Chính sách và kế hoạch phát triển trong quản lý giáo dục” đã phân tích sâu sắc về lý thuyết và mô hình chính sách, các phương pháp lập kế hoạch giáo dục.TS Trần Kiểm “Những vấn đề nghiên cứu cơ bản của khoa học quản lý giáo dục” [12] đã trình bày những quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển giáo dục và hệ thống giáo dục, làm rõ tư tưởng quản lý… Tìm hiểu tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy đã có nhiều công trình khoa học và luận án, luận văn, bài báo liên quan đến đề tài “Quản lý bồi dưỡng cán bộ, công chức khối Đảng, Đoàn tỉnh Bắc Kạn”. Những công trình này đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực trạng về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng cán bộ, công chức khối Đảng, đoàn thể tại tỉnh Bắc Kạn.
Việc nghiên cứu đề tài này với cấp độ luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục để đề xuất các biện pháp hoàn thiện công tác quản lý bồi dưỡng nói riêng, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nói chung của tỉnh Bắc Kạn. Một số khái niệm cơ bản 1. Cán bộ, công chức Luật "Cán bộ, Công chức" năm 2008 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 quy định: Khoản 1 điều 4: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [18]. 8 Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.
Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ. Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản Pháp luật tương ứng chuyên ngành điều chỉnh hoặc theo Điều lệ. Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật cán bộ, công chức 2008 quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị- xã hội quy định cụ thể.
Những ai là cán bộ trong cơ quan nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan và do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể. Khoản 2 điều 4: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [18]. 9 Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức.
Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị.