Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG CHUYÊN MÔN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƢỜNG THPT 1.1- Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.
Quản lý * Khái niệm quản lý: Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện cùng với xã hội loài người, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội. Chính sự phân công và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng xuất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra và chỉnh lý… tức là phải có người đứng đầu - người quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật bởi quản lý nghiên cứu các luật lệ, các nguyên tắc và phải linh hoạt trước nhiều tình huống, phải đương đầu với cách ứng xử của con người: Thương lượng, thuyết phục, vận động sao cho đạt tới mục tiêu. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn chỉ đề cập đến một số định nghĩa tiêu biểu, có liên quan đến hoạt động quản lý.
- Thuật ngữ “Quản lý” thể hiện được bản chất hoạt động này trong thực tiễn, nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau “Quản” chỉ sự coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái “ổn định” và quá trình “Lý” chỉ sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “Phát triển”.Mác viết: “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu cần có một sự chỉ đạo để điều hoà sự hoạt động… Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [12, Tr.Taylor khẳng định “Quản lý là biết được chính xác điều bạn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [23, tr. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. Ở Việt Nam, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý, có thể nêu ra một số định nghĩa như sau: Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, thì định nghĩa kinh điển nhất về hoạt động quản lý là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. cũng theo Giáo sư, hiện nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, và kiểm tra.
Các định nghĩa trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng điểm chung thống nhất đều coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. * Chức năng quản lý: Khái niệm chức năng theo Từ điển Tiếng Việt “ tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào đó, một cái gì đó”. Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý riêng biệt thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhất định.66] Trong hoạt động quản lý, “chức năng quản lý giáo dục” là điểm xuất phát để xác định chức năng của cơ quan quản lý giáo dục và cán bộ quản lý giáo dục.67] Các công trình nghiên cứu hiện nay chưa thống nhất về các chức năng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của quản lý. Vào những năm 30 người ta chỉ ra quản lý có 7 chức năng: Hoạch định – Tổ chức – Quản lý nhân sự – Chỉ huy – Phối hợp – Kiểm tra – Tài chính.
Giáo trình KHQL ( hệ cao cấp lý luận) của học viện lý luận Quốc gia Hồ Chí Minh nêu 7 chức năng là: Dự báo – Kế hoạch hoá - Tổ chức – Quản lý nhân sự - Điều khiển – Kiểm tra. Trong thời đại công nghệ thông tin có một số người đưa chức năng thông tin vào chu trình quản lý với sự biểu diễn theo sơ đồ sau: Kế hoạch hoá Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý Hiện nay các giáo trình KHQL thường thống nhất quản lý có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá - Tổ chức – Chỉ đạo – Kiểm tra và thường biểu diễn theo chu trình quản lý ở sơ đồ 1. Với quan niệm đó chúng ta có thể hiểu các chức năng đó như sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kế hoạch hoá Kiểm tra Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.2: Các chức năng trong chu trình quản lý 1. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung nhưng là một khoa học tương đối độc lập.
Quản lý giáo dục theo tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các hoạt động xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Quản lý giáo dục thường được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng.65] Theo lý luận của giáo dục hiện đại thì cụm từ quản lý giáo dục được 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đối với toàn bộ các hoạt động giáo dục.
Quá trình của hệ quản lý này dựa trên cơ sở của việc ra quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt và việc xử lý thông tin về các hoạt động giáo dục một cách kịp thời. Quan hệ cơ bản của quản lý giáo dục là quan hệ của người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục. Các mối quan hệ khác biểu hiện trong quan hệ giữa các cấp bậc quản lý, giữa người với người (giáo viên - học sinh); giữa người với việc (hoạt động giáo dục); giữa người với vật( cơ sở vật chất, điều kiện cho giáo dục). Vậy QLGD về thực chất là quản lý quá trình giáo dục- đào tạo.
Quản lý quá trình GD-ĐT là quản lý hoạt động của người dạy, người học và quản lý các tổ chức sư phạm ở cơ sở khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình GD-ĐT nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã đặt ra. Quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của các nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp chung nhất cuả khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học- giáo dục theo mục tiêu đào tạo. Trong giai đoạn hiện nay nhiều sự thay đổi đang diễn ra trong giáo dục nói chung, ở nhà trường nói riêng.
Đó là thay đổi về tư duy giáo dục, mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình giáo dục, và phương pháp giảng dạy… .Việc thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực của học học sinh theo tinh thần Nghị quyết 40/2000/QH10 đòi hỏi người thày phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn. Các nhà quản lý giáo dục muốn đảm bảo được chất lượng giáo dục, quy mô phát triển của nhà trường phải quan tâm, quản lý 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo. Quản lý nhà trường * Nhà trường Nhà trường là một tổ chức sư phạm - xã hội. Với tư cách là một tổ chức xã hội, nhà trường được thành lập trong môi trường xã hội để làm nhiệm vụ giáo dục - đào tạo.
Trường học là một tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục, nơi tập hợp những người có nhiệm vụ chung là dạy và học để giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính pháp lý, vừa là một tổ chức xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ. Nó là tế bào chủ chốt của bất cứ hệ thống quản lý giáo dục nào từ trung ương đến địa phương. Như vậy, quản lý giáo dục ở trường học là quản lý mục tiêu, chương trình giáo dục đào tạo, cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục đào tạo và đặc biệt là quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giáo viên.
Trường học là một thiết chế xã hội luôn thể hiện tính chuyên môn hoá cao. Nhiệm vụ của trường càng chuyên sâu thì khả năng hoạt động càng có hiệu quả cao.