CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 1. Thương mại.[15] Thương mại là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hóa và dịch vụ. Theo nghĩa hẹp: hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Theo nghĩa rộng : là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, hoạt động thương mại bao gồm không chỉ các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà còn là các hoạt động đầu tư cho sản xuất dưới các hình thức đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, được điều chỉnh bằng Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật kinh doanh bất động sản, Luật Chứng khoán và các Luật chuyên ngành khác. Chức năng của thương mại: - Thứ nhất: Tổ chức lưu thông hàng hóa (mua bán hàng hóa), dịch vụ trong nước và với nước ngoài. Đây là chức năng xã hội của thương mại.
Điều này được thể hiện ở: + Biểu hiện ở vốn và cơ cấu vốn: đối với vốn lưu động chiếm 80% trong tổng số vốn, trong đó vốn cho lưu chuyển hàng hóa là chủ yếu. + Thể hiện ở thu nhập và nguồn hình thành thu nhập, trong đó có hoạt động từ bán hàng là chủ yếu. + Chi phí kinh doanh và biện pháp giảm phí. + Cơ chế trích, lập và sử dụng các quỹ doanh nghiệp, trong đó quỹ phát triển kinh doanh là chủ yếu, bao gồm quỹ để hiện đại hóa mạng lưới, trang thiết 5 bị các hoạt động xếp dỡ hàng hóa, vận chuyển hàng hóa, bảo quản hàng hóa.
Với chức năng này ngành thương mại phải nghiên cứu và nắm vững nhu cầu thị trường hàng hóa dịch vụ. Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn hàng nhằm thỏa mãn tốt mọi nhu cầu xã hội và thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ trong quá trình kinh doanh. - Thứ hai: thông qua quá trình lưu thông hàng hóa, thương mại thực hiện chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông. + Chuyển hóa hình thái giá trị.
+ Bảo tồn và dịch chuyển giá trị sử dụng của hàng hóa trong khâu lưu thông. + Thực hiện các dịch vụ trong lưu thông. - Thứ ba: thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa trong và ngoài nước cũng như thực hiện các dịch vụ, thương mại làm chức năng gắn sản xuất với thị trường và gắn nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế. + Thay đổi cơ cấu của nền sản xuất xã hội.
+ Thương mại tác động đến kinh tế xã hội thông qua hoạt động chính mình. Từ sản xuất đến tiêu dùng: hiểu sản xuất, tư vấn tiêu dùng, hỗ trợ tự do. Từ tiêu dùng đến sản xuất: thị trường theo sản xuất, thị trường theo khách hàng. Thời gian sản xuất đến tiêu dùng: nối cung cầu, thực hiện chắp nối ghép mối.
- Thứ tư: Chức năng thực hiện giá trị hàng hóa, dịch vụ, qua đó thương mại đáp ứng tốt mọi nhu cầu của sản xuất và đời sống, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng.Chuyển hóa hình thái giá trị của hàng hóa là chức năng quan trọng của thương mại. Hoạt động thương mại bao gồm: -Thương mại hàng hóa: TM hàng hóa là hoạt động mua bán hàng hóa. - Thương mại dịch vụ: là hoạt động cung ứng các dịch vụ ra thị trường. 6 Biểu hiện chức năng thương mại trong lĩnh vực TMDV: TMDV thực hiện đồng thời cả chức năng sản xuất, chức năng lưu thông, chức năng tổ chức tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ.
Nghĩa là trong TMDV các doanh nghiệp không chỉ thuần túy thực hiện cả việc mua bán, ngoài việc thực hiện chức năng thương mại nó còn thực hiện chức năng sản xuất ra các dịch vụ và tổ chức cả quá trình tiêu dùng dịch vụ cho khách hàng. Các chức năng này cơ bản được thực hiện trong cùng một không gian và thời gian. Thương mại dịch vụ , phát triển thương mại dịch vụ a. Khái niệm TMDV Thương mại dịch vụ là toàn bộ những hoạt động cung ứng dịch vụ trên thị trường thông qua mua bán nhằm mục đích lợi nhuận.
Dịch vụ có thể được cung cấp trên thị trường như một sản phẩm độc lập (cung cấp một khóa học tiếng anh), một số trường hợp chúng được cung cấp như một tập hợp nhiều dịch vụ riêng lẻ có tính chất bổ sung lẫn nhau (như một tour du lịch có các loại dịch vụ vận chuyển, nhà hàng…), trường hợp khác chúng đi kèm cùng với sản phẩm hàng hóa (dịch vụ nhà hàng đi kèm với thức ăn, đồ uống). Cần lưu ý rằng, không phải bất kỳ sự cung ứng dịch vụ nào trong xã hội cũng có tính thương mại. TMDV chỉ bao gồm những hoạt động mua bán và trao đổi có tính chất lợi nhuận. Tính đặc thù về đối tượng trao đổi trong TMDV Là sản phẩm của lao động nên dịch vụ mang giá trị.
Trong trao đổi giá trị dịch vụ thể hiện thông qua giá cả thị trường. Dịch vụ cũng có giá trị sử dụng hay công dụng của nó chính là các lợi ích mà người tiêu dùng nhận được và thỏa mãn khi tiêu dùng chúng. Vì dịch vụ là vô hình nên khó thương mại hóa hơn. Khi xảy ra mất cân đối cung cầu theo thời gian người ta không dự trữ chúng được trong các kho hoặc nếu có sự mất cân đối cung cầu theo không gian người ta không thể điều 7 hòa bằng cách vận chuyển từ nơi này qua nơi khác bằng phương tiện vận tải nhằm điều tiết cung cầu.
TMDV có phạm vi rất rộng từ dịch vụ tiêu dùng cá nhân đến dịch vụ sản xuất, kinh doanh, quản lý trong tất cả các ngành nghề của nền kinh tế quốc dân, thu hút đông đảo người tham gia với trình độ khác nhau. TMDV đang có sức lan tỏa rất lớn, nên phát triển TMDV có ảnh hưởng gián tiếp đến tất cả các ngành của nền kinh tế. Việc nhận thức đầy đủ về TMDV đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và hạn chế những tổn thất không đáng có trong giao thương. Nó có vai trò quan trọng đối với cá nhân và doanh nghiệp trong quá trình đầu tư, mua bán, trao đổi thương mại.
Nhận thức được xu hướng thay đổi trong chức năng của thương mại thích ứng với nền kinh tế thị trường cạnh tranh, từ đó vận dụng đúng các chức năng của thương mại không chỉ trong tổ chức hoạt động, trong các hoạt động cung ứng ở phạm vi doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa trong việc quản lý nhà nước đối với thương mại trong phạm vi vĩ mô. Hơn thế nữa, khi nước ta gia nhập WTO tham gia vào thương mại quốc tế, hiểu rõ TMDV giúp chúng ta nỗ lực hết mình, biến thách thức thành thời cơ, hội nhập thành công, đưa nước ta lên tầm cao mới. Vị trí của thương mại dịch vụ Thương mại là một khâu của quá trình tái sản xuất, có vị trí trung gian nối liền sản xuất và tiêu dùng. Ở vị trí cấu thành của quá trình tái sản xuất, TMDV được coi là hệ thống dẫn lưu, tạo ra sự liên tục của quá trình tái sản xuất.
TMDV là một ngành kinh tế độc lập kinh doanh thương mại trở thành ngành sản xuất vật chất thứ hai. Phát triển thương mại dịch vụ Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt 8 để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn.
Phát triển thương mại dịch vụ là phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh được các nội dung cả về mặt lượng và mặt chất. - Sự tăng lên về quy mô: là tăng giá trị cung cấp dịch vụ, tăng các loại hình cung cấp dịch vụ và phát triển thị trường cung cấp dịch vụ. - Sự tăng lên về mặt lượng: là làm tăng chất lượng cung cấp dịch vụ, tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ. Để phát triển cả quy mô và chất lượng cung cấp dịch vụ: • Cần phát triển các loại hình cung cấp dịch vụ cả về số lượng và chất lượng.
• Phát triển các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ theo cả số lượng, quy mô và khả năng cung cấp. • Phát triển hạ tầng thương mại dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của thị trường TMDV. Phân loại, đặc điểm và vai trò của thương mại dịch vụ 1. Phân loại thương mại dịch vụ Ban Thư ký WTO phân thương mại dịch vụ thành 12 khu vực bao gồm: Bảng 1.
Phân loại thương mại dịch vụ Stt Ngành dịch vụ Mô tả chung 1 Dịch vụ kinh Bao gồm các dịch vụ chuyên môn như dịch vụ pháp lý, doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán, dịch vụ kiến trúc; dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan; các dịch vụ kinh doanh khác.