CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Nhận thức chung về nguồn nhân lực và phát triển nguồn lực Nhân lực là tài nguyên quý giá nhất. Trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, con người luôn là yếu tố quan trọng quyết định. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về thị trường, cạnh tranh về sản phẩm mà còn phải biết phát triển nguồn nhân lực một cách hiệu quả [8].Nguồn nhân lực Từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á đã sử dụng khái niệm “Nguồn nhân lực”, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển. Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay.
Khái niệm về nguồn nhân lực (NNL) theo cách hiểu và tiếp cận khác nhau mà các nhà nghiên cứu NNL có những cách đánh giá và tiếp cận khác nhau: * Theo giác độ vĩ mô: Nguồn nhân lực là dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Chính vì vậy, NNL được nghiên cứu trên góc độ số lượng và chất lượng [1]. Số lượng NNL được hiểu thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bố NNL theo khu vực, vùng lãnh thổ… Chất lượng NNL được nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động.
Tóm lại, trí tuệ, thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực. * Theo giác độ vi mô: Nguồn nhân lực là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp do doanh nghiệp trả lương. 5 Do vậy, nó có thể lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động. NNL của doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định [10].
Như vậy, NNL chính là những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể yếu tố vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động, là mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt động của một tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Nguồn nhân lực tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần của doanh nghiệp. Bằng sức lao động cùng với các hoạt động nhận thức, tình cảm, hoạt động…các thành viên trong doanh nghiệp đã sử dụng công cụ lao động kết hợp với các yếu tố khác tác dụng vào đối tượng lao động để tạo ra hàng hóa và dịch vụ. Đó chính là sức mạnh vật chất của NNL.
Mặt khác, doanh nghiệp hoạt động như một cơ thể sống, phản ánh mức sống tinh thần thông qua văn hóa doanh nghiệp được tạo nên bởi truyền thống, tập quán, lễ nghi và nghệ thuật ứng xử trong tập thể lao động. Đó chính là sức mạnh tinh thần của nguồn nhân lực [11]. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp luôn bị hao mòn trong quá trình sử dụng. Sự khôi phục và phát triển NNL được coi là yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp.2 Phát triển nguồn nhân lực Cùng với sự hoàn thiện với khái niệm “Nguồn nhân lực”, khái niệm “phát triển nguồn nhân lực” cũng có sự hoàn thiện và được tiếp cận theo các góc độ sau: * Theo nghĩa rộng, phát triển NNL là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động [5].
* Theo nghĩa hẹp, phát triển NNL được thể hiện theo các góc độ khác nhau: - Dưới góc độ một doanh nghiệp: Phát triển NNL là quá trình tạo dựng lực lượng lao động có kỹ năng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực này trong tổ chức [5]. - Dưới góc độ là người lao động: Đó là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập người lao động [5]. Trên quan điểm xem “Con người là nguồn vốn – vốn nhân lực”, Yoshihara Kunio cho rằng “Phát triển NNL là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra NNL với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng 6 thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân. Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của tổ chức quốc tế về lao động thì “Phát triển NNL bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực, là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”.
Phát triển NNL là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng NNL với việc nâng cao hiệu quả sử dụng chúng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, của ngành hay của một doanh nghiệp. Nói một cách khác, phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển [10].3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực 1.1 Các yếu tố môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô chính là các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp, tạo ra các cơ hội và nguy cơ đối với doanh nghiệp. Đối với phát triển NNL trong doanh nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNL bao gồm các yếu tố như: chính sách vĩ mô và sự hỗ trợ của Nhà nước, khung cảnh kinh tế, dân số và lực lượng lao động trong xã hội, các điều kiện về văn hóa- xã hội chung của đất nước, pháp luật, khoa học công nghệ, khách hàng, đối thủ cạnh tranh [15]. Chính sách vĩ mô cùng sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức quốc tế trong đào tạo và phát triển NNL cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nhưng những khó khăn của bản thân DNNVV lại không nhỏ, do đó Chính phủ các nước cũng như Chính phủ Việt Nam đều đưa ra những chính sách vĩ mô, qui định luật pháp để khuyến khích phát triển DNNVV trong đó có phát triển NNL. Đối với các nước đang phát triển như nước ta, bên cạnh hỗ trợ của Chính phủ DNVVN còn nhận hỗ trợ phát triển của các Tổ chức Quốc tế. Khung cảnh kinh tế bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, dân số…có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nhân lực về chất lượng và số lượng, tác động đến thu nhập, đời sống của người lao động.
Điều này sẽ tạo cơ hội hoặc áp lực cho công tác phát triển NNL của doanh nghiệp 7 Bên cạnh đó, chu kỳ kinh tế và chu kỳ kinh doanh ảnh hưởng rất lớn đến phát triển NNL. Trong giai đoạn kinh tế phát triển, các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất. Do vậy cần phát triển lao động mới, tăng cường công tác đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng cán bộ, công nhân viên. Hơn nữa, việc mở rộng sản xuất này đòi hỏi doanh nghiệp phải tuyển chọn thêm người có năng lực, trình độ buộc doanh nghiệp phải tăng lương, tăng phúc lợi, cải thiện điều kiện làm việc để thu hút nhân tài.
Ngược lại, khi kinh tế suy thoái, bất ổn và có chiều hướng đi xuống, đòi hỏi doanh nghiệp một mặt vẫn phải duy trì lực lượng lao động có tay nghề, mặt khác cần phải giảm chi phí lao động. Doanh nghiệp phải cho nhân viên nghỉ tạm thời hoặc nghỉ hẳn, giảm phúc lợi. Ở Việt Nam, từ khi áp dụng chính sách mở cửa, nhu cầu phát triển nên nhiều công ty đã gia tăng lực lượng lao động, thu hút NNL bằng cách tăng lương, tăng phúc lợi…Như vậy, khung cảnh kinh tế có tác động rất lớn đến phát triển NNL của mỗi doanh nghiệp. Sự phát triển của hệ thống cung cấp dịch vụ, phát triển kinh doanh và các tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo sẵn sàng thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ thì DNNVV sẽ dễ dàng tìm kiếm được các tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo tốt trên thị trường để tổ chức đào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý hay người lao động.
Nếu trên thị trường có nhiều tổ chức cung cấp dịch vụ đào tạo, tư vấn cho DNNVV thì sẽ thuận lợi cho DNNVV trong phát triển NNL và ngược lại. Dân số và lực lượng lao động trong xã hội, theo Mác, một quá trình sản xuất xã hội nào cũng cần phải có tổng hợp 3 yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong đó, sức lao động là yếu tố chủ thể của quá trình sản xuất, nó không chỉ làm “sống lại’ các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn có khả năng sáng tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất [1]. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL trước hết phải kể đến là sức khỏe của NNL.
Đây là một yêu cầu tất yếu, tiên quyết và không thể thiếu. Bởi sức khỏe là nhân tố quyết định để duy trì sự tồn tại, là cơ sở cốt yếu để tiếp nhận, duy trì và phát triển trí tuệ. Trí tuệ, lao động trí tuệ là nhân tố quan trọng hàng đầu của đội ngũ nhân lực trong điều kiện hiện nay. Trí tuệ là NNL mà biểu hiện của nó là thông qua tri thức.
8 Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi nó được con người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng.