MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, thế giới đang có xu hƣớng chuyển từ nền kinh tế dựa vào sự giàu có của các nguồn tài nguyên sang kinh tế tri thức. Tuy nhiên, khoa học và công nghệ dù có sức mạnh thế nào cũng không thể thay thế hoàn toàn vai trò của con ngƣời, nguồn nhân lực vẫn đóng một vai trò quan trọng quyết định quá trình sản xuất, tăng trƣởng và phát triển kinh tế xã hội. Xã hội càng phát triển nhanh càng đòi hỏi về nguồn nhân lực chất lƣợng cao tăng lên không ngừng.
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, công tác phát triển nguồn nhân lực đã trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng để thực hiện hiệu quả chiến lƣợc phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Đầu tƣ vào việc phát triển nguồn nhân lực ngay trong doanh nghiệp là một giải pháp tự đáp ứng nhu cầu về chất lƣợng nguồn nhân lực. Đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực, đầu tƣ xây dựng con ngƣời, là đầu tƣ cho sự phát triển bền vững, đầu tƣ cho tƣơng lai. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, cùng với việc tiên phong “đi tắt, đón đầu” ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, tiên tiến vào loại bậc nhất để xây dựng tiềm lực vật chất, kỹ thuật, Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà luôn đặc biệt quan tâm xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao, góp phần xây dựng Công ty vững mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Công ty đã đặc biệt chú trọng xây dựng, phát triển nguồn nhân lực và xác định đây là nhân tố nền tảng, then chốt, giúp tạo ra sự khác biệt, mang lại lợi thế và năng lực cạnh tranh, quyết định sự tồn tại và phát triển nhanh, bền vững của Công ty. Và hiện tại công tác phát triển nguồn nhân lực đang đƣợc xem là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển chung của Công ty. Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH một thành viên đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2017 - 2020” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ 2 chuyên ngành Quản lý kinh tế. Mục đích nghiên cứu đề tài Làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2017 - 2020. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3. Đối tượng nghiên cứu Các vấn đề thực tiễn liên quan đến tình hình phát triển nguồn nhân lực của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Tại các phòng, ban chuyên môn, xí nghiệp, các phân xƣởng của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà.
Phạm vi thời gian: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà từ năm 2012 - 2016. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, sẽ đi sâu nghiên cứu và vận dụng từ các tài liệu đã đƣợc công bố, liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, các sách báo, tạp chí, Internet và các công trình khoa học khác. Số liệu về tình hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển nguồn nhân lực của Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà từ năm 2012 - 2016 đƣợc lấy từ các báo cáo. Số liệu từ các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Hệ thống hóa đƣợc các vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà. Đề xuất đƣợc một số một số biện pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH một thành viên đóng tàu Hồng Hà. Bố cục luận văn Luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2012 – 2016. Chƣơng 3: Một số biện pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà giai đoạn 2017 – 2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực 1.
Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Nói đến nguồn nhân lực là nói đến con ngƣời, và đã có nhiều quan điểm nói tới nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực có thể đƣợc hiểu là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con ngƣời có sức lao động.
Nguồn nhân lực còn đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có: thể lực và trí lực. Nguồn nhân lực có ảnh hƣởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nguồn nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh. Trên phạm vi quốc gia, nguồn nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào việc quy định của Nhà nƣớc về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể. Nguồn nhân lực cũng đƣợc hiểu là tổng hợp các cá nhân có cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội.
Nguồn nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con ngƣời trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp). Nguồn nhân lực là cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất. Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trƣởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phƣơng (tỉnh, thành phố.) và nó khác với các nguồn 5 lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ.) ở chỗ nguồn lực con ngƣời với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội.
Trƣớc hết với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, ở nghĩa rộng nhất là nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động, không biệt ngƣời đó đang đƣợc phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội. Với tƣ cách là khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (do pháp luật quy định). Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc thì nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. Theo nhƣ Nicolas Hery trong cuốn Quản trị công và vấn đề công thì nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hoặc một địa phƣơng, tức nguồn lao động đƣợc chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những ngƣời lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đƣờng đáp ứng đƣợc yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [5, tr.
Từ các quan niệm trên, có thể nói nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu đƣợc động viên, khuyến khích phù hợp. Vai trò của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1) Nguồn nhân lực là nhân tố cốt lõi, chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Đó là nguồn lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo của doanh nghiệp. Chỉ có con ngƣời mới sáng tạo ra hàng hóa, dịch vụ và kiểm tra đƣợc quá trình sản xuất kinh doanh đó. Bên cạnh những nguồn tài nguyên cần thiết nhƣ: thiết bị, tài sản, nguồn tài chính, doanh nghiệp cần phải có nguồn tài nguyên không thể thiếu đó là tài nguyên con ngƣời.
Vì nếu không có những con ngƣời làm việc hiệu quả thì tổ chức đõ cũng không thể nảo đạt đƣợc mục tiêu. 2) Nguồn nhân lực ảnh hƣởng tới năng suất lao động và kết quả kinh doanh: Mục tiêu của bất cứ doanh nghiệp nào hƣớng tới cũng đều là lợi nhuận mà quá trình kinh doanh mang lại. Đối với doanh nghiệp sản xuất, nguồn nhân lực và chất lƣợng nguồn nhân lực ảnh hƣởng trực tiếp tới chất lƣợng sản phẩm cũng nhƣ năng suất lao động. Xét về chất lƣợng sản phẩm, ngoài sự ảnh hƣởng của máy móc thiết bị, nó còn phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề của ngƣời lao đông cũng nhƣ thái độ của họ đối với công việc.
Cùng với sự phát triển của sản xuất, nhu cầu của con ngƣời ngày càng phong phú và đa dạng. Sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều hơn, và đặc biệt chất lƣợng ngày càng cao hơn. Điều đó chỉ có thể có đƣợc do loại lao động trình độ cao sản xuất ra. Khi một doanh nghiệp áp dụng một dây chuyền công nghệ hiện đại, với máy móc thiết bị mới, nó đòi hỏi sự chuyên môn hóa cao và khả năng làm việc tận tâm của ngƣời lao động.
Xát về năng xuất lao động, ta có thể thấy rằng, cùng một điều kiện làm việc nhƣ nhau, năng suất lao động ở nơi có nguồn nhân lực chất lƣợng cao sẽ hơn hẳn ở nới có chất lƣợng nguồn nhân lực thấp hơn.