đặt vấn đề kinh tế để xem xét. Nếu cứ áp dung các quy định của pháp luật tối tụng hình sự trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn(như tạm giam) thì số lượng bị can, bị cáo ở các trại tạm giam tăng đáng kể gây áp lực về kinh tế và công tác quản lý giáo dục mà ở đó Nhà nước phải tăng chi phí cho các hoạt động kèm theo: chế độ ăn, ở, sinh hoạt, chế độ giam giữ canh gác, trang thiết bị cơ sở vật chất cũng phải tăng cường. Vậy thì nên chăng có biện pháp quản lý, giám sát được đối tượng mà vẫn đảm bảo mục tiêu ngăn chặn tội phạm, đảm bảo hiệu quả trong công tác điều tra khám phá án đồng thời đảm bảo được quyền con người và để họ tự lao động sản xuất nuôi sống bản thân trong cộng đồng xã hội nhằm giảm bớt chi phí ngân sách của nhà nước. Có quan điểm cho rằng phòng ngừa tội phạm cũng là biện pháp ngăn chặn tội phạm trong Tố tụng hình sự.
Đây là quan điểm hình thức mà chưa thấy rõ bản chất phòng ngừa từ xa của công tác phòng ngừa tội phạm. Hiện nay chúng ta đã và đang thực hiện Chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm, thực hiện các Nghị quyết của Đảng về đấu tranh phòng chống các loại tội phạm trong tình hình mới như Nghị quyết 48, Nghị quyết 21…. Còn đó các quan điểm lấp lửng biến hóa, biến tướng tùy tiện, đặc biệt trong hoạt động tạm giữ hành chính và tố tụng, coi đây như là một cứu cánh, chữa cháy cho hoạt động điều tra vụ án. Đó là tình trạng hình sự hóa các quan hệ pháp luật dân sự, hành chính, kinh tế hoặc ngược lại là lấy cưỡng chế thay cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu chứng cứ.
Từ các lý do đó đòi hỏi phải nghiên cứu những quy định của pháp luật 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn để đánh giá, xem xét trong mối quan hệ tương ứng để rút ra kinh nghiệm, kết luận đúng, áp dụng có hiệu quả góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đồng thời đảm bảo không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mục đích cần đạt được là: “Nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”(Điều 1–BLTTHS). Hoạt động này do nhiều chủ thể thực hiện trong đó vai trò, quyền và nhiệm vụ của các chủ thể khác nhau, có khi đối lập nhau vì vậy có khi các chủ thể là người bị nghi thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo… thường tìm mọi cách gây khó khăn cản trở việc điều tra giải quyết vụ án hình sự do vậy pháp luật Tố tụng hình sự quy định các biện pháp ngăn chặn để áp dụng khi cần thiết phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Việc đưa ra khái niệm đầy đủ, chính xác là yêu cầu tất yếu, tuy nhiên đến nay khái niệm về các biện pháp ngăn chặn vẫn còn có nhiều tranh luận.
Theo từ điển nghiệp vụ phổ thông ngành Công an thì: “các biện pháp ngăn chặn trong phòng, chống tội phạm là biện pháp chủ động đối phó kịp thời không để cho bọn phản cách mạng và bọn phạm tội khác thực hiện âm mưu phạm tội của chúng”. Ở đây đã chỉ ra được rằng các biện pháp ngăn chặn là biện pháp thể hiện tính chủ động tấn công, phòng ngừa tội phạm nhưng chưa làm rõ được chủ thể cụ thể, đối tượng bị áp dụng và các căn cứ áp dụng. Theo các tác giả Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên nêu ra trong quyển: “Những điều cần biết về bắt người tạm giữ, tạm giam… đúng pháp luật” thì các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế cần thiết trong Tố tụng hình sự do các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và trong một số trường hợp được pháp luật quy định, có thể áp dụng đối với cả người chưa bị khởi tố (bắt trong trường hợp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội và ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc có những hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Trong khái niệm này, các tác giả đã làm rõ đối tượng bị áp dụng và mục đích của việc áp dụng.
Tuy nhiên chỉ nêu ra các chủ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án là chưa đủ vì việc bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã thì bát kỳ người nào cũng có quyền bắt hoặc lực lượng quản lý giáo dục phạm nhân tiến hành công tác thi hành án phạt tù, nhưng cơ quan đó không phải là cơ quan tiến hành tố tụng. Trên cơ sở trên có thể đưa ra khái niệm về các biện pháp ngăn chặn như sau: Các biện pháp ngăn chặn là các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền theo luật định áp dụng đối với những người trong những trường hợp cụ thể do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và việc chấp hành bản án hình sự một cách đúng đắn, khách quan. Đặc điểm của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam Một số nét về giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong các giai đoạn trước khi khởi tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội. Về khái niệm: Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó cơ quan Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là; Chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.
Về bản chất pháp lý Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm; Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng. Điều 79 Bộ luật TTHS quy định: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Bắt người là biện pháp ngăn chặn bao gồm bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Bắt là một thuật ngữ đã có từ lâu với ý nghĩa chung là sự cưỡng chế, tước bỏ tạm thời quyền tự do của con người, trong những điều kiện hoàn cảnh, lý do nhất định và nhằm đạt được mục đích nhất định.
Trong mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước, bắt thể hiện sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, của giai cấp thống trị xã hội đối với cá nhân và thương được quy định bằng những quy tắc chặt chẽ vì nó liên quan đến các quyền cơ bản của con người. - Bắt bị can để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự để tạm giam phục vụ cho việc điều tra vụ án hình sự. Một người có hành vi phạm tội đã bị Cơ quan điều tra khởi tố và có căn cứ quy định tại điều 88 Bộ luật TTHS thì Cơ quan điều tra có thể áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam. - Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là khi có căn cứ cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiệm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc sau khi thực hiện tội phạm người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp ngăn chặn này nhằm ngăn chặn tội phạm và ngăn chặn người phạm tội trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Sau khi thực hiện lệnh bắt thì Cơ quan điều tra phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn. - Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt.