Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái quát biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS Việt Nam 1. Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ tiếp tục xảy ra, ngăn chặn họ trốn tránh, bảo đảm cho việc tiến hành tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 79 BLTTHS Việt Nam bao gồm: Bắt; Tạm giữ; Tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo. - Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã, người thực hiện hành vi phạm tội quả tang và trong trường hợp khẩn cấp nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn chặn việc trốn tránh của họ và để tạo điều kiện cho việc tiến hành tố tụng, xác định sự thật khách quan của vụ án. - Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền quyết định tước tự do thân thể trong thời hạn nhất định áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm đảm bảo cho CQĐT có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ban đầu để có cơ sở quyết định khởi tố bị cạn, tạm giam hoặc trả tự do cho người bị bắt. - Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
- Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng. - Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự thay thế cho biện pháp tạm giam được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có người bảo lãnh không để bị can, bị cáo phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng. - Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự để thay thế biện pháp tạm giam do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngăn ngừa họ có hoạt động cản trở việc giải quyết vụ án. Những biện pháp ngăn chặn nêu trên phải được áp dụng bởi những người có thẩm quyền như: Chánh án, Phó Chánh án Toà án các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành; 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người chỉ huy quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy tàu bay, tàu biển hoặc chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển.
Riêng việc bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã thì mọi công dân đều có quyền bắt. Khi đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn, khoa học pháp lý ở nước ta tương đối có sự thống nhất, Giáo trình luật TTHS của Khoa Luật ĐHQGHN định nghĩa như sau: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế được quy định trong pháp luật TTHS Việt Nam, do người có thẩm quyền ở các cơ quan THTT hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm đảm bảo cho việc thi hành án [13, tr. Căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những người bị nghi ngờ thực hiện hành vi phạm tội hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bảo đảm cho các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm vì người thực hiện tội phạm thường có ý thức che dấu tội phạm, trốn tránh để tránh bị xử lý. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú và đi lại… do vậy phải đảm bảo sự công bằng, dân chủ và tôn trọng các quyền công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định.
Vì vậy không được 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tùy tiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn mà phải áp dụng dựa trên các căn cứ pháp luật đã quy định để đảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thực hiện các biện pháp ngăn chặn đúng pháp luật. Căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự bao gồm: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm; Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; Sẽ tiếp tục phạm tội; Cần bảo đảm thi hành án. Theo đó thì: Thứ nhất, để kịp thời ngăn chặn tội phạm Kịp thời ngăn chặn tội phạm, để tội phạm không xảy ra, không tiếp tục xảy ra, không hoàn thành để gây ra nguy hiểm cho xã hội là một việc làm cần thiết. Do đó BLTTHS quy định để kịp thời ngăn chặn tội phạm là một căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm thường được sử dụng để bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Khi có căn cứ cho rằng người nào đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) hoặc bắt người phạm tội quả tang (Khi thấy một người đang thực hiện tội phạm). Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử Những người bị tình nghi thực hiện tội phạm hay đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu không bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn phần lớn sẽ gây nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là cần thiết. Khi họ có các hành vi gây khó khăn thì việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn và việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án gặp nhiều cản trở thậm chí không thực hiện được. Việc gây khó khăn của họ thể hiện ở việc trốn tránh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm sai lệch hoặc thủ tiêu chứng cứ, bàn bạc, câu kết với những người tham gia tố tụng khác khai báo gian dối, tạo chứng cứ giả… 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do vậy khi có căn cứ nêu trên các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc thay đổi các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo, người đã thực hiện hành vi phạm tội để đáp ứng được nhiệm vụ giải quyết vụ án hình sự, xác định được sự thật khách quan của vụ án.
Thứ ba, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội Trường hợp người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo có khả năng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn để hạn chế hoặc cách ly họ với xã hội để họ không có điều kiện thực hiện tội phạm là cần thiết. Tuy nhiên, khi xem xét căn cứ này phải xem xét trên mọi phương diện để tránh việc áp dụng tùy tiện, xâm phạm đến các quyền con người, quyền công dân của họ. Các căn cứ này có thể được xác định thông qua nhân thân của người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo, các hành vi khách quan của họ. Họ là những người có nhân thân xấu như: có tiền án, tiền sự, sử dụng trái phép các chất ma túy.
chứng tỏ họ đã được giáo dục và xử lý bởi pháp luật nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Họ có các biểu hiện như đe dọa trả thù người bị hại, người làm chứng… và có khả năng thực hiện được sự đe dọa. Thứ tư, để bảo đảm thi hành án Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật liên quan trực tiếp đến bị can, bị cáo hay người bị kết án. Trong trường hợp bị can, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng hoặc họ có nhân thân xấu thuộc trường hợp bị áp dụng hình phạt tù thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn là cần thiết.