Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đối với doanh nghiệp khai thác đá hiện nay tại Hải phòng. Chương 3: Biện pháp nâng cao công tác quản lý đối với các doanh nghiệp khai thác đá tại Hải Phòng. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP 1.
Các khái niệm cơ bản về doanh nghiệp và công tác quản lý doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 thông qua 26/11/2014, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Trong khái niệm này, "kinh doanh" đƣợc hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lời. Luật Doanh nghiệp đã quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp.
Luận văn xin tóm tắt một số đặc điểm chủ yếu về các loại hình doanh nghiệp ở nƣớc ta hiện nay. - Doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp (sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật). Doanh nghiệp tƣ nhân có đặc điểm nhƣ sau: Doanh nghiệp thuộc sở hữu tƣ nhân, chủ doanh nghiệp là ngƣời lao động chính. Trong một số trƣờng hợp chủ doanh nghiệp cũng có thể thuê ngƣời khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh.
Là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn, có nghĩa là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Công ty trách nhiệm hữu hạn (hai thành viên trở lên). Công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc loại công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã cam kết góp, một số đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này là: Quyền quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty thuộc về Hội đồng thành viên. Chủ tịch hội 6 đồng thành viên và Giám đốc (Tổng giám đốc).
Phân phối lợi nhuận theo tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên, nhƣng công ty chỉ đƣợc chia lợi nhuận khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. - Công ty cổ phần. Đây cũng là loại hình công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn, trong đó các thành viên (cổ đông) có cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp. Đây là một trong những loại hình doanh nghiệp đang chiếm nhiều ƣu thế, hoạt động có hiệu quả và mang tính xã hội hóa rất cao.
Một số đặc điểm của loại hình công ty này là: Công ty cổ phần chỉ đƣợc trả cổ tức cho các cổ đông khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Mức cổ tức cho từng cổ phần do Hội đồng quản trị (cơ quan quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh, quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông) quyết định căn cứ vào kết quả kinh doanh cùng nhiều yếu tố khác liên quan. - Công ty hợp danh. Đây là một loại hình tổ chức ít đƣợc các chủ sở hữu lựa chọn.
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp, đồng thời chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã góp của mình. Tóm lại, việc chủ sở hữu tƣ nhân lựa chọn loại hình tổ chức kinh doanh nào để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình, trong khuôn khổ quy định của pháp luật là tuỳ thuộc ý tƣởng, quy mô, tiềm lực về vốn và năng lực quản lý của chính chủ sở hữu cùng các yếu tố khác. Nếu quy mô sở hữu nhỏ với ý tƣởng bảo toàn tính độc lập trong kinh doanh, ngƣời chủ sở hữu có thể chọn 7 loại hình hộ kinh doanh cá thể.
Nếu quy mô sở hữu lớn hơn và muốn thực hiện kinh doanh một cách độc lập, ngƣời chủ sở hữu có thể chọn loại hình Doanh nghiệp tƣ nhân hoạt động theo Luật doanh nghiệp, còn nếu muốn mở rộng quy mô kinh doanh, các chủ sở hữu sẽ liên kết với nhau để tổ chức doanh nghiệp dƣới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần. Thực tế, ở nƣớc ta hiện nay, sự phát triển của kinh tế tƣ nhân nói chung và việc lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh là tuỳ thuộc rất lớn vào hệ thống các chính sách và việc triển khai các chính sách đó trong thực tiễn. Để thuận lợi và thống nhất cho việc nghiên cứu đề tài, trong phạm vi của luận văn chỉ đề cập tới các loại hình doanh nghiệp của kinh tế tƣ nhân có đăng ký kinh doanh với cơ quan Nhà nƣớc gồm các loại hình cụ thể sau: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty Trách nhiệm hữu hạn. Công tác quản lý doanh nghiệp Nói một cách khái quát, quản lý nhà nƣớc là sự tác động của nhà nƣớc vào toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung, khu vực doanh nghiệp nói riêng bằng hệ thống luật pháp, chính sách, tổ chức, các chế tài về kinh tế - tài chính và các công cụ quản lý để thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc đối với nền kinh tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng, ổn định tình hình chính trị - xã hội của đất nƣớc.
Ở mỗi quốc gia, khi vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trƣờng đều có sự giống nhau là chịu sự chi phối và tác động của các quy luật kinh tế và các quy luật đặc thù của mỗi chế độ xã hội. Nhà nƣớc nhận thức, vận dụng các quy luật đó vào quản lý, điều hành nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế tổ chức thực hiện. Tuỳ theo bản chất kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và trình độ khác nhau về sự nhận thức, vận dụng các quy luật kinh tế của nhà nƣớc mà nền kinh tế cũng nhƣ hệ thống các doanh nghiệp của nƣớc đó phát huy hiệu lực và hiệu quả khác nhau. Điều đó càng nói lên tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Nhƣ vậy, có thể hiểu: Quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp là sự tác 8 động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nƣớc, thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế với các công cụ kinh tế lên hệ thống các chủ thể kinh tế tƣ nhân (hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tƣ nhân) trong nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực phát triển kinh tế, các cơ hội có thể có, để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế đã đặt ra. Nội dung công tác quản lý doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp khai thác đá nói riêng 1. Nội dung công tác và hoàn thiện công tác quản lý doanh nghiệp Có thể khái quát nội dung quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhƣ sau: Một là, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư phát triển doanh nghiệp Dựa trên chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội đã đƣợc hoạch định trong từng thời kỳ, nhà nƣớc xây dựng định hƣớng chiến lƣợc phát triển cho từng loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tƣ nhân trong từng thời kỳ đó, gắn chặt với các quy hoạch phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung, từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng lãnh thổ nói riêng. Trên cơ sở chiến lƣợc phát triển kinh tế tƣ nhân đó, nhà nƣớc, mà cụ thể là các cơ quan quản lý nhà nƣớc sẽ tiếp tục lập ra các bản quy hoạch, kế hoạch cụ thể nhằm từng bƣớc hƣớng khu vực kinh tế tƣ nhân thực thi những chỉ tiêu đã đƣợc đề cập trong chiến lƣợc phát triển kinh tế.
Hai là, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp Đây là sự đòi hỏi nhà nƣớc cần phải thực hiện vai trò chủ thể trong quản lý đối với kinh tế tƣ nhân bằng những văn bản pháp luật đƣợc thể chế hoá một cách thống nhất, đồng bộ, nhất quán, ổn định và rõ ràng. Chỉ có nhƣ vậy mới hƣớng đƣợc toàn bộ hoạt động của kinh tế tƣ nhân nói riêng và của nền kinh tế - xã hội nói chung đi đúng quỹ đạo của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội đã đƣợc xác định, từ đó tạo ra đƣợc những điều kiện 9 để thu hút, tổ chức và hƣớng dẫn quần chúng, kinh tế tƣ nhân hành động đúng pháp luật. Ba là, thực hiện các hoạt động hỗ trợ công dân lập thân, lập nghiệp; hỗ trợ doanh nhân làm ăn có hiệu quả Nội dung quản lý nhà nƣớc này thể hiện ở việc nhà nƣớc xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích, hỗ trợ, phát triển khu vực kinh tế tƣ nhân phù hợp định hƣớng mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn và phù hợp với đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tƣ nhân trong từng ngành, từng lĩnh vực và ở từng địa bàn lãnh thổ. Đồng thời nhà nƣớc cũng áp dụng những biện pháp cụ thể để động viên, khuyến khích cộng đồng dân cƣ đầu tƣ sản xuất, kinh doanh làm giàu cho bản thân và cho cộng đồng.