Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Chương 2: Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần TM Châu Thanh. Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần TM Châu Thanh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Vốn và phân loại vốn của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm vốn doanh nghiệp - Trong thực tế có rất nhiều khái niệm về vốn, xuất phát từ cách nhìn nhận vốn từ những góc độ khác nhau. Sự khái quát về phạm trù vốn thành phạm trù tư bản của C.Mác đã bao hàm đầy đủ bản chất và tác dụng của vốn: “Vốn là giá trị mang lại giá trị thặng dư, là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất” [2, tr.118] - Nhiều nhà kinh tế học khác lại cho rằng: “Vốn là một loại hàng hoá đặc biệt mà quyền sử dụng vốn có thể tách rời quyền sở hữu vốn”. - Có rất nhiều khái niệm về vốn nhưng khái niệm được chấp nhận rộng rãi nhất là: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện dưới hình thái giá trị của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi”.148] - Vốn là hàng hoá đặc biệt, không thể tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng, vì vậy các chủ thể tạm thời thừa vốn hoặc tạm thời thiếu vốn có thể thoả thuận để thoả mãn nhu cầu của mình. - Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn được biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình.
- Vốn phải có giá trị về mặt thời gian, nền kinh tế thị trường ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: lạm phát, khủng hoảng. mà sức mua của đồng tiền ở những thời điểm khác nhau thì khác nhau. - Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định và được quản lý chặt chẽ. Phân loại vốn Vốn của doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Với mỗi tiêu thức, vốn sẽ được nhìn nhận và xem xét dưới mỗi góc độ khác nhau, từ đó thấy được các hình thái vận động của vốn, đặc tính của vốn để sử dụng vốn có hiệu quả. Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển của vốn Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển, vốn được chia làm 2 loại: Vốn cố định và vốn lưu động. a, Vốn cố định Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh. “Vốn cố định là khoản đầu tư ứng trước về TSCĐ của doanh nghiệp và sau một thời gian dài mới thu hồi được toàn bộ.
Vì vậy quy mô VCĐ nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ. Đặc điểm của vốn cố định: - Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. VCĐ có đặc điểm này là do TSCĐ tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp và phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì VCĐ là hình thái biểu hiện bằng tiền của TSCĐ nên VCĐ cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng [3, tr.
- Vốn cố định luân chuyển dần, từng phần trong các chu kỳ sản xuất. VCĐ gồm 2 bộ phận: + Bộ phận thứ nhất: là phần hao mòn TSCĐ, được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao, được sử dụng để tái đầu tư TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất cho doanh nghiệp. + Bộ phận thứ hai: là phần giá trị còn lại của vốn cố định được cố định trong TSCĐ, đó chính là giá trị còn lại của TSCĐ. b,Vốn lưu động Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có 1 lượng tài sản lưu động nhất định.
Các khái niệm về vốn lưu động như sau: “Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán, tài sản lưu động được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho. 5 Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi các đặc điểm của tài sản lưu động nên VLĐ của doanh nghiệp có đặc điểm sau: - VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện. - VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và cũng được thu hồi toàn bộ giá trị sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
- VLĐ hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh [15, tr. Từ đặc điểm của VLĐ như trên để có thể sử dụng VLĐ hiệu quả cần chú trọng giải quyết những vấn đề sau: - Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo đủ vốn lưu động cho quá trình sản xuất kinh doanh. - Tổ chức khai thác nguồn vốn tài trợ cho vốn lưu động, đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời vốn lưu động cho hoạt động sản xuất. Căn cứ theo quan hệ sở hữu vốn Căn cứ theo quan hệ sở hữu, vốn được chia làm hai bộ phận: Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả.
a, Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, nó giúp cho doanh nghiệp có sự tự chủ về tài chính hơn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung khác nhau như: - Vốn góp ban đầu: Khi DN được thành lập bao giờ cũng có một số vốn nhất định. Đối tuợng góp vốn, tỷ lệ và quy mô phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, cơ cấu liên doanh.117] Lợi nhuận không chia: Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ phận sử dụng để tái đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất của DN.118] 6 - Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia - nguồn vốn nội bộ: là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các DN, vì DN giảm chi phí, giảm sự phụ thuộc từ bên ngoài. Như vậy, để có NV này thì các DN phải đặt ra mục tiêu có một khối lợi nhuận đủ lớn để bù đắp chi phí đã bỏ ra, từ đó mới đáp ứng được nhu cầu vốn tự bổ sung của DN.118] - Phát hành cổ phiếu mới: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thì DN có thể tăng vốn CSH bằng cách phát hành cổ phiếu mới.
Phát hành cổ phiếu đựơc gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của DN.119] b, Nợ phải trả - Nợ phải trả là phần vốn doanh nghiệp được sử dụng nhưng thuộc sở hữu của chủ thể khác. Doanh nghiệp có quyền sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau đó doanh nghiệp phải hoàn trả cả gốc và lãi cho chủ sở hữu phần vốn đó. - Nợ phải trả bao gồm các khoản vay dài hạn, vay ngắn hạn, các khoản thanh toán cho cán bộ công nhân viên, phải trả nhà cung cấp, phải trả Nhà Nước và một số khoản phải trả phải nộp khác [17, tr. Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn có thể chia nguồn vốn thành hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và Nguồn vốn tạm thời.
a, Nguồn vốn thường xuyên “Nguồn vốn thường xuyên là tổng thể các nguồn vốn có tính chất lâu dài và ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Nguồn vốn thường xuyên bao gồm: vốn chủ sở hữu và vay dài hạn. b, Nguồn vốn tạm thời Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (thường là dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng dể đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời bao gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
Căn cứ theo phạm vi huy động vốn Căn cứ theo phạm vi huy động vốn, nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận: Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp và nguồn vốn bên ngoài DN. a, Nguồn vốn bên trong Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp là nguồn vốn có thể huy động trong nội bộ doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn quan trọng đảm bảo khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể huy động từ nội bộ bên trong DN như: Lợi nhuận để lại.
các quỹ của doanh nghiệp, số tiền khấu hao lũy kế, các khoản thu do thanh lý, nhượng bán TSCĐ. b, Nguồn vốn bên ngoài Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp là nguồn vốn được huy động bên ngoài phạm vi doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có thể huy động các nguồn từ bên ngoài DN như: nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại, phát hành trái phiếu DN, vốn liên doanh liên kết. - Nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại: Có thể nói vốn vay NH là 1 trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các DN mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.120] - Vốn liên doanh liên kết: Đây là những nguồn vốn đóng góp theo tỷ lệ của các chủ đầu tư để thực hiện mục đích kinh doanh nhằm mục tiêu thu LN.
- Phát hành trái phiếu DN: Trái phiếu là chứng chỉ vay vốn do DN phát hành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của DN thanh toán số lợi tức và tiền vay vào những thời hạn đã xác định cho người nắm giữ. Khi DN thiếu vốn có thể huy động vốn từ bên ngoài qua việc phát hành trái phiếu. Trái phiếu là các giấy vay nợ trung và dài hạn. Trái phiếu quy định thời hạn, lãi suất, thời gian trả lãi và mệnh giá.121] 8 Doanh nghiệp cần căn cứ vào ưu nhược điểm của từng nguồn để huy động vốn nhằm mang lại hiệu quả sử dụng vốn cao nhất với chi phí và rủi ro là thấp nhất.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: 1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn là sự đảm bảo duy trì và nâng cao được giá trị của doanh nghiệp tại các thời điểm khác nhau trong quá trình hoạt động, bất kể có sự biến động của giá cả trên thị trường.