CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Tổng quan về trường đại học công lập 1. Khái niệm trường đại học công lập Trong Luật GDĐH của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam năm 2012 có đưa ra khái niệm trường đại học như sau: “Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau tổ chức theo chuyên môn hai cấp để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học” [16, Điều 4]; “Cơ sở giáo dục công lập thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất” [16, Điều 7]. Ngoài ra, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về trường học nói chung và trường ĐHCL nói riêng.
Trong đó, theo tác giả Ngô Thế Chi thì đại học được coi là nhà trường và có khái niệm sau: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục đại học quốc dân được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục” [13, trang 14]. Qua những khái niệm kể trên có thể hiểu một cách đơn giản về trường ĐHCL như sau: Trường ĐHCL là ĐVSN có thu tự bảo đảm một phần kinh phí hay toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng giáo dục đại học, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng về phục vụ lợi ích cộng đồng và xã hội. Điều này cho thấy Nhà nước là cơ quan đầu tư bỏ kinh phí ra để xây dựng lên các trường ĐHCL và Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý các trường ĐHCL về mọi mặt hoạt động. Cũng như các ĐVSN công lập khác, trường ĐHCL sẽ hoạt động theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ban hành ngày 25/4/2006 của Chính phủ.
Nhiệm vụ và quyền hạn của trường đại học công lập Các trường ĐHCL trong có trình hoạt động của mình có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định trong Luật GDĐH năm 2012 của Quốc hội khóa XIII [16, Điều 28]: - Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển cơ sở GDĐH. - Triển khai hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, đảm bảo chất lượng GDĐH. - Phát triển các chương trình đào tạo theo mục tiêu đã xác định, đảm bảo sự liên thông giữa các chương trình và trình độ đào tạo. - Tổ chức bộ máy; tuyển dụng, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức người lao động.
- Để có thể thực hiện hoạt động tốt, các trường ĐHCL không chỉ thực hiện dạy và học mà còn phải tiến hành quản lý chặt chẽ người học và người dạy gồm các sinh viên, các cán bộ nhân viên, giảng viên… đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Cùng với đó, trường ĐHCL cần dành một phần kinh phí của mình để thực hiện các chính sách mang tính chất xã hội đối với các đối tượng sinh viên cũng như cán bộ nhân viên, giảng viên của trường là người được hưởng chính sách xã hội. - Trong quá trình hoạt động, các trường ĐHCL sẽ phải tự tiến hành đánh giá chất lượng do trường thực hiện đào tạo và đồng thời chịu sự kiểm định CLGD. - Các trường ĐHCL sẽ được Nhà nước cho thuê đất hoặc thực hiện việc giao đất cũng như các cơ sở vật chất khác.
Ngoài ra, trường ĐHCL còn được Nhà nước miễn giảm thuế theo quy định của pháp luật. - Hợp tác với các tổ chức kinh tế, y tế, nghiên cứu khoa học, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao trong nước và nước ngoài. - Nằm trong khối giáo dục do Nhà nước quản lý nên trường ĐHCL thường xuyên phải tiến hành báo cáo kết quả tình hình hoạt động cho Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các cơ quan liên quan, chịu sự kiểm tra, thanh tra 10 của các cơ quan quản lý cấp trên, của UBND các cấp nơi mà trường ĐHCL đặt trụ sở hoặc nơi trường tiến hành tổ chức hoạt động đào tạo theo quy định. - Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công 1. Khái niệm và đặc điểm về tài sản công * Khái niệm về tài sản công Khái niệm về TSC xuất hiện từ rất lâu với các cách hiểu khác nhau. Một trong những văn bản đưa ra của Nhà nước về TSC đó là Hiến pháp năm 1992 trong điều 17 có viết như sau: “Phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân” [18, điều 17]. Trải qua các năm, quy định về TSC ngày càng được quy định một cách rõ ràng về hình thức sở hữu thông qua Bộ luật Dân sự năm 2005, trong điều số 200 có viết: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước bao gồm … phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định” [19].
Qua những cách hiểu quy định trong văn bản pháp luật ở trên, có thể hiểu một cách đơn giản như sau: TSC là những tài sản được hình thành từ nguồn NSNN, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật. * Đặc điểm tài sản công - Đặc điểm đầu tiên kể đến khi nói tới TSC đó là tiền để bỏ ra mua sắm, đầu tư, nâng cấp, cải tạo sửa chữa TCS được lấy từ kinh phí NSNN hoặc có một phần NSNN hoặc từ các nguồn vốn được đầu tư khác. - Đặc điểm thứ hai của TSC đó là trong quá trình hình thành cũng như sử dụng TSC thì phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan đơn vị theo quy định của Nhà nước. 11 - Đặc điểm thứ ba của TSC đó là không giống như tài sản sử dụng trong doanh nghiệp, đối với TSC sử dụng tại các đơn vị nhà nước thì sẽ không thu hồi được vốn đầu tư xây dựng, mua sắm trong quá trình sử dụng tài sản.
Nguyên tắc quản lý tài sản công Quản lý TSC cần phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cơ bản sau đây: Nguyên tắc đầu tiên trong việc quản lý TSC đó là phải tập trung và thống nhất. Nguyên tắc này được hiểu đó là mọi TSC tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng đều được Nhà nước giao quyền trong việc sử dụng, quản lý và các quyền khác theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc thứ hai trong quản lý TSC đó là phải theo kế hoạch. Giống như việc thu chi tài chính trong các ĐVSN thì việc quản lý TSC cũng cần có các bước quản lý dựa theo kế hoạch đã lập ra từ việc khai thác, sử dụng hay mua mới.
Nguyên tắc thứ ba trong quản lý TSC đó là minh bạch và trung thực. Việc mua bán, sửa chữa, nâng cấp TSC đều cho NSNN chi trả. Do đó, mọi hoạt động liên quan tới TSC đều phải thống kê, hạch toán một cách chi tiết, đầy đủ, chính xác về hiện vật và giá trị. Nguyên tắc thứ tư trong quản lý TSC đó mà việc sử dụng TSC tại ĐVSN cần phải đúng mục đích đề ra, định mức sử dụng, định mức tiêu hao căn cứ vào các quy định của Nhà nước.
Nguyên tắc thứ năm trong quản lý TSC đó là thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý; đồng thời phải có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù riêng. Mục tiêu quản lý tài sản công - Mục tiêu của việc quản lý TSC đó là làm sao cơ quan đơn vị sử dụng có thể khai thác một cách hiệu quả nhất TSC tại đơn vị. - Đáp ứng yêu cầu công việc của cơ quan hành chính Nhà nước gắn với yêu cầu hiện đại hoá và tái trang bị TSC đi liền với hiện đại hoá đất nước. 12 - Các mục tiêu khác trong quản lý TSC như: giao lưu học hỏi, tranh thủ sự giúp đỡ về mọi mặt của quốc tế, tạo sự tôn nghiêm và lòng tin đối với công dân và quốc tế.
Chỉ tiêu đánh giá về quản lý tài sản công * Nhóm chỉ tiêu định lượng - Tổng vốn đầu tư cho TSC của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ và mức độ tăng trưởng vốn đầu tư cho TSC của đơn vị. Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số vốn được đơn vị đó sử dụng đầu tư cho mua sắm, cải tạo, nâng cấp các TSC trong một khoảng thời gian nhất định. Quy mô vốn đầu tư càng lớn chứng tỏ đơn vị càng chú trọng tới đầu tư TSC nhằm nâng cao năng lực hoạt động cho mình. Mức độ tăng trưởng vốn đầu tư cho TSC là chỉ tiêu tương đối phản ánh tốc độ biến động của vốn đầu tư cho TSC qua các thời kỳ nhất định.
Mức độ tăng trưởng vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư cho TSC năm nay _ Tổng vốn đầu tư cho TSC năm trước cho TSC = x100 Tổng vốn đầu tư cho TSC năm trước Mức độ tăng trưởng dương cho thấy TSC của đơn vị ngày càng được chú trọng đầu tư mở rộng và phát triển. Đối với TSC của các trường ĐHCL công lập đều là những tài sản tiên tiến, hàm lượng công nghệ cao nên cần lượng vốn đầu tư rất lớn. Chính vì vậy, quy mô vốn đầu tư cho TSC của các trường ĐHCL ở mức cao. - Cơ cấu vốn đầu tư cho TSC của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ.
Tại các đơn vị sự nghiệp thì vốn đầu tư cho TSC được hình thành chủ yếu từ hai nguồn: nguồn NSNN cấp trực tiếp và nguồn kinh phí của đơn vị, ngoài ra còn có có thể hình thành từ nguồn liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư công tư. Cơ cấu vốn đầu tư cho TSC của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ là chỉ tiêu tương đối phản ánh thành phần và tỷ trọng của mỗi nguồn vốn huy động đầu tư cho TSC của đơn vị trong một giai đoạn cụ thể.