Tổng quan về luận án
Bối cảnh quản trị khu vực công tại Việt Nam trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI chứng kiến bước chuyển dịch mang tính bước ngoặt từ cơ chế bao cấp, phân bổ nguồn lực hành chính sang cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP của Chính phủ và thể chế hóa bởi Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 (Luật số 15/2017/QH14). Tuy nhiên, khoảng trống nghiên cứu (research gap) trọng yếu tồn tại trong các tài liệu kinh tế công: phần lớn các nghiên cứu trước đây (như Nguyễn Mạnh Hùng, 2009; Phan Hữu Nghị, 2009; Lê Thị Việt Hà, 2016; Trần Việt Phương, 2016) chỉ tiếp cận tài sản công (TSC) ở góc độ cơ quan hành chính nhà nước hoặc khối đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, thiếu vắng các khảo sát thực nghiệm chuyên sâu vào hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) tự chủ – nơi TSC vừa mang thuộc tính công ích phục vụ giáo dục phi lợi nhuận, vừa đòi hỏi tính năng động tài chính để tái đầu tư mở rộng dịch vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Thị Hương (2019) giải quyết khoảng trống học thuật này thông qua việc hệ thống hóa và làm sáng tỏ 3 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ sở lý luận về quản lý TSC tại các cơ sở GDĐH công lập vận hành như thế nào dưới lăng kính chuyển đổi tự chủ đại học và các kinh nghiệm quốc tế có thể gợi mở điều gì cho Việt Nam?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng quản lý chu trình vòng đời TSC (hình thành, khai thác/sử dụng, kết thúc) tại 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ giai đoạn 2014 – 2018 đang gặp phải những nút thắt và hạn chế thể chế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Hệ thống quan điểm, cơ chế chính sách và giải pháp đột phá nào cần được thiết lập nhằm tối ưu hóa hiệu suất khai thác TSC cho giai đoạn 2020 – 2025, định hướng đến năm 2030?
Nghiên cứu kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu chính:
- Giả thuyết H1: Mức độ tự chủ tài chính có mối tương quan thuận chiều với nhu cầu phân cấp, phân quyền trong quyết định đầu tư, mua sắm và khai thác thương mại hóa tài sản chuyên dùng.
- Giả thuyết H2: Sự thiếu hụt cơ chế hạch toán đầy đủ khấu hao và chi phí sử dụng đất vào giá thành dịch vụ đào tạo làm sai lệch hiệu quả phân bổ nguồn lực và gia tăng rủi ro thất thoát tài sản công.
- Giả thuyết H3: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu số hóa quốc gia kết hợp cơ chế kiểm toán độc lập sẽ cải thiện trực tiếp hiệu lực thanh tra, giám sát tài sản tại các trường đại học tự chủ.
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Thuyết Quản lý theo khoa học (Scientific Management Theory) của Fredrich Winslow Taylor (1911), Lý thuyết Quản trị quyền tài sản (Property Rights Governance) của Yiu, Wong & Yau (2006) và Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Management). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 12 cơ sở GDĐH công lập có thời gian tự chủ trên 2 năm theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP trong tổng số 170 cơ sở GDĐH công lập cả nước (giai đoạn 2014 – 2018), đối với 2 nhóm tài sản chủ lực ghi nhận trên Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về TSC: tài sản là nhà/đất và tài sản cố định khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên. Ý nghĩa của luận án thể hiện ở việc định hình cơ chế giao quyền tự chủ thực chất gắn liền với trách nhiệm giải trình tài chính công.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu quốc tế và trong nước cho thấy sự phát triển của ba dòng nghiên cứu (research streams) chính về quản lý tài sản khu vực công:
Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào cải cách kế toán công và chuẩn hóa chỉ tiêu đánh giá tài sản. Bond & Dent (1998) chỉ ra sự thất bại của các cơ quan chính phủ tại Vương quốc Anh trong lưu trữ hồ sơ bất động sản và lập luận rằng cải cách kế toán danh mục đầu tư kết hợp hài hòa mục tiêu kinh tế - xã hội là điều kiện tiên quyết. Grubisic, Nusinovic & Roje (2009) khi phân tích mô hình quản lý tài sản công tại Croatia đã xác lập 6 yêu cầu cải cách, nhấn mạnh vào hệ thống thông tin minh bạch, phân loại tài sản chuẩn tắc và phương pháp đánh giá chi phí dựa trên kết quả đầu ra. Đinh Học Đông (2000) phân tích mô hình cải cách thể chế quản lý tài sản tại Trung Quốc, tách bạch ranh giới giữa tài sản mang tính kinh doanh và tài sản hành chính sự nghiệp, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu làm rõ quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản nhà nước.
Dòng nghiên cứu thứ hai xem xét thể chế quản trị quyền tài sản và mô hình hợp tác công - tư (PPP). Yiu, Wong & Yau (2006) tiếp cận quản lý tài sản dưới góc độ quản trị quyền sở hữu (exclusion and internal conflict resolution), phân định ranh giới giữa tài sản dùng chung, tài sản công - tư và tài sản cá nhân. Conway, Undelan, Peteson, Kaganova & Mckellar (2006) khảo sát kinh nghiệm vĩ mô tại Úc, Pháp, Canada, New Zealand và Hoa Kỳ, tổng kết ba cấu trúc quản trị cốt lõi: cơ quan chính phủ chuyên trách mở cho thị trường cạnh tranh (Úc, Trung Quốc), tập đoàn nhà nước nắm giữ danh mục tài sản (Canada), và thuê ngoài công ty tư nhân quản lý qua hợp đồng thương mại. Hentschel & Kaganova (2007) khẳng định vai trò của các đối tác tư nhân trong việc tài trợ và vận hành tài sản chính phủ nhằm khắc phục hạn chế ngân sách. Ngược lại, Muhammad Hasbi Hanis, Trigunarsyah & Susilawati (2011) khi nghiên cứu chính quyền địa phương tại Nam Sulawesi (Indonesia) đã chỉ ra các rào cản lớn: sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc phi lợi nhuận của tài sản công với yêu cầu tối ưu hóa hiệu quả, cùng sự chồng chéo hành chính và thiếu hụt dữ liệu chuẩn xác.
Dòng nghiên cứu thứ ba tại Việt Nam phản ánh tiến trình hoàn thiện khung khổ pháp lý từ Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước 2008 đến Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017. Các công trình của Nguyễn Mạnh Hùng (2008, 2009), Phan Hữu Nghị (2009), Chu Xuân Nam (2010), Lê Chi Mai (2010), và Lê Thị Việt Hà (2016) đã làm rõ cơ chế quản lý tài sản công tại cơ quan hành chính và ngành Tòa án nhân dân. Trần Việt Phương (2016) và Phạm Thị Thanh Vân (2016) bước đầu phân tích quản lý tài sản tại đơn vị sự nghiệp và quản lý tài chính nội bộ đại học công lập. Các đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Cục Quản lý công sản (2013) và các bài báo của Nguyễn Tân Thịnh (2016, 2017), Trần Đức Thắng & Nguyễn Tân Thịnh (2017), Lê Ngọc Khoa (2006), Tào Hữu Phùng (2006) đã kiến nghị phân cấp thẩm quyền, hạch toán khấu hao vào giá dịch vụ công và hiện đại hóa CSDL quốc gia.
Tranh luận học thuật cốt lõi diễn ra giữa hai trường phái: (1) Quan điểm quản lý hành chính tập trung truyền thống, nhấn mạnh kiểm soát chặt chẽ hiện vật và phòng chống thất thoát bằng định mức cứng nhắc; và (2) Quan điểm Quản trị công mới (NPM), coi tài sản công như nguồn lực vốn hóa cần được trao quyền tự chủ vận hành theo cơ chế thị trường (cho thuê, liên doanh, liên kết, tính đủ khấu hao). Luận án của Đào Thị Hương định vị chính xác tại điểm giao thoa này, giải quyết hạn chế của các nghiên cứu tiền nhiệm vốn chỉ nhìn nhận cơ sở GDĐH công lập như một đơn vị dự toán hành chính thuần túy, thay vì một chủ thể kinh tế tự chủ đang quản trị khối tài sản công có giá trị hàng ngàn tỷ đồng.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đóng góp quan trọng vào việc mở rộng Lý thuyết Quản lý tài chính công và Thuyết Quản trị quyền tài sản trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi thông qua các khía cạnh:
Thứ nhất, luận án chuẩn hóa định nghĩa khoa học mang tính đặc thù: "Tài sản công các cơ sở GDĐH công lập là một bộ phận TSC mà Nhà nước giao cho các cơ sở GDĐH công lập trực tiếp quản lý và sử dụng để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ được giao". Khái niệm này đã phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu đại diện của Nhà nước và quyền quản lý, sử dụng, khai thác kinh tế của đơn vị sự nghiệp tự chủ.
Thứ hai, nghiên cứu xác lập luận điểm lý thuyết về bản chất kinh tế nhị nguyên của TSC trong trường đại học công lập: vừa là tư liệu vật chất công ích phục vụ đào tạo nhân lực và nghiên cứu khoa học phi vụ lợi cho quốc gia, vừa là tài sản vốn hóa cần được bảo toàn, phát triển và thu hồi giá trị hao mòn thông qua cấu thành giá dịch vụ công.
Thứ ba, luận án chứng minh sự chuyển dịch mô hình (paradigm shift) từ "quản lý hiện vật theo cấp phát hành chính" sang "quản trị giá trị tài sản gắn với trách nhiệm giải trình và chuẩn mực kế toán dồn tích". Quá trình quản lý được cấu trúc hóa thành một hệ thống mở trả lời đầy đủ 6 câu hỏi bản thể học: Chủ thể quản lý (Ai quản lý?), Khách thể quản lý (Quản lý ai?), Đối tượng quản lý (Quản lý cái gì?), Phương thức quản lý (Quản lý như thế nào?), Công cụ quản lý (Quản lý bằng cái gì?), và Mục tiêu quản lý (Quản lý để làm gì?).
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp đa chiều ba lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Quản lý khoa học của Taylor (tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ và định mức kỹ thuật), Lý thuyết Quản trị quyền tài sản của Yiu et al. (giải quyết xung đột phân bổ và xác định quyền tài sản), và Lý thuyết Tài chính công hiện đại (hạch toán chi phí đầu vào và kết quả đầu ra).
Khung phân tích vận hành dựa trên việc tiếp cận toàn diện chu trình vòng đời tài sản (Lifecycle Asset Management), bao gồm 3 phân hệ tương tác chặt chẽ:
- Quản lý quá trình hình thành tài sản: Kiểm soát danh mục đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tập trung hoặc tự chủ mua sắm, tiếp nhận tài trợ, và tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật.
- Quản lý quá trình khai thác và sử dụng: Đánh giá hiệu suất sử dụng giảng đường, phòng thí nghiệm, công tác duy tu bảo dưỡng định kỳ, và cơ chế tính toán phân bổ khấu hao tài sản cố định vào chi phí đào tạo.
- Quản lý quá trình kết thúc sử dụng: Thẩm định quy trình thanh lý, bán, điều chuyển, thu hồi hoặc tiêu hủy tài sản hết hạn sử dụng hoặc suy giảm công năng kỹ thuật.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập nghiêm ngặt: giới hạn trong khu vực đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tự chủ có thu; tập trung vào tài sản là nhà, đất và tài sản cố định hữu hình có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên; trong bối cảnh chuyển giao thể chế kinh tế giữa Luật TSNN 2008 và Luật TSC 2017.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng triết học nghiên cứu (epistemological stance), kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (mixed-methods design) tích hợp giữa định tính phân tích chuẩn tắc và định lượng thống kê mô tả nhằm đảm bảo độ tin cậy và giá trị giá trị thực nghiệm cao.
Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level design) được triển khai qua 3 cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô: Đánh giá hệ thống chính sách, khung pháp lý quản lý TSC quốc gia do Chính phủ và Bộ Tài chính ban hành.
- Cấp độ trung mô: Khảo sát cơ chế quản lý điều hành ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ chủ quản.
- Cấp độ vi mô: Phân tích thực chứng biến động tài sản và quản trị nội bộ tại 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ trực thuộc.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược chọn mẫu (sampling strategy) có chủ đích: Lựa chọn toàn bộ 12 cơ sở GDĐH công lập có thời gian vận hành tự chủ từ 2 năm trở lên theo Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP trong giai đoạn 2014 – 2018 nhằm đảm bảo tính ổn định và tính so sánh của chuỗi dữ liệu.
Giao thức thu thập dữ liệu (data collection protocols) kết hợp đa nguồn (triangulation):
- Dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ CSDL quốc gia về TSC thuộc Bộ Tài chính, các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm kê tài sản hàng năm của 12 trường đại học tự chủ, và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan giai đoạn 2010 – 2018.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua điều tra xã hội học với 4 nhóm đối tượng bằng phiếu khảo sát thiết kế trên phần mềm SurveyMonkey và phỏng vấn trực tiếp:
- Nhóm 1: 05 cán bộ, chuyên viên quản lý tài chính - tài sản tại Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính).
- Nhóm 2: 10 cán bộ quản lý thuộc Phòng Kế hoạch - Tài chính (Bộ Giáo dục và Đào tạo).
- Nhóm 3: 24 cán bộ chuyên trách tại bộ phận Kế hoạch - Tài chính và Ban Quản lý dự án của 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ.
- Nhóm 4: 66 giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở GDĐH thuộc mẫu nghiên cứu.
Độ tin cậy (reliability) và giá trị cấu trúc (construct validity) của bảng hỏi được thẩm định thông qua thử nghiệm sơ bộ (pilot test), bảo đảm tính nhất quán trong diễn giải các thuật ngữ định mức, tiêu chuẩn và quy trình xử lý tài sản.
Data và phân tích
Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích số tương đối, số tuyệt đối, lập bảng biểu so sánh chéo và đồ thị hóa các chiều kích biến động:
- Phân tích chuỗi thời gian (time-series analysis) về biến động số lượng, nguyên giá và cơ cấu TSC của 12 trường giai đoạn 2014 – 2018.
- So sánh tỷ lệ ngân sách nhà nước cấp so với tổng nguyên giá TSC, tỷ trọng đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí duy tu, bảo dưỡng định kỳ.
- Phân tích chi phí đào tạo theo bộ phận chức năng và mức độ hoạt động nhằm xác định mô hình tích hợp chi phí tài sản vào giá dịch vụ giáo dục.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Thứ nhất, sự phân hóa và mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu tài sản công. Số liệu thực chứng tại 12 trường đại học tự chủ giai đoạn 2014 – 2018 chỉ ra rằng tài sản là nhà và công trình kiến trúc chiếm tỷ trọng áp đảo cả về số lượng và giá trị, trong khi máy móc, trang thiết bị thí nghiệm chuyên dùng phục vụ nghiên cứu khoa học chất lượng cao chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn.
Thứ hai, áp lực tự chủ làm gia tăng mức độ tự đầu tư nhưng cơ chế ngân sách rút lui chưa đồng bộ. Khi chuyển sang tự chủ theo Nghị quyết 77/NQ-CP, tỷ lệ ngân sách nhà nước cấp cho mua sắm, đầu tư TSC tại 12 trường giảm mạnh, buộc các trường phải sử dụng Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và nguồn thu hợp pháp để trang trải. Tuy nhiên, quyền tự quyết trong mua sắm và đầu tư vẫn bị ràng buộc bởi các quy trình phê duyệt hành chính phức tạp.
Thứ ba, sự lạc hậu và thiếu thực chất của hệ thống định mức, tiêu chuẩn. "Áp dụng hệ thống các tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC chưa đồng bộ, chưa thống nhất; cơ chế phân cấp quản lý chưa rõ ràng, dẫn đến việc lập hồ sơ tài sản, quản trị tài sản, kế toán tài sản, báo cáo thống kê tăng giảm tài sản, công tác bảo dưỡng, sửa chữa, đổi mới, thay thế tài sản chưa được tiến hành một cách thường xuyên".
Thứ tư, đứt gãy trong công tác duy tu, bảo dưỡng và xử lý tài sản kết thúc vòng đời. Tỷ lệ kinh phí bố trí cho công tác bảo trì tài sản tại các trường tự chủ còn rất thấp so với yêu cầu kỹ thuật, dẫn đến tình trạng tài sản xuống cấp nhanh trước thời hạn. Quy trình thanh lý tài sản lạc hậu, hư hỏng kéo dài nhiều năm do vướng mắc thủ tục định giá và thẩm quyền phê duyệt, gây lãng phí không gian sử dụng.
Implications đa chiều
- Về mặt lý thuyết: Luận án khẳng định sự cần thiết phải tích hợp lý thuyết quản trị doanh nghiệp vào quản trị khu vực công (NPM), xác lập cơ chế xem tài sản công tại đơn vị tự chủ như nguồn vốn cần bảo toàn và phát triển.
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp khung đánh giá toàn diện 3 giai đoạn vòng đời tài sản, có khả năng nhân rộng áp dụng cho toàn bộ 170 cơ sở GDĐH công lập và các đơn vị sự nghiệp công lập khác (y tế, khoa học công nghệ) tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn và chính sách:
- Cơ chế chính sách: Hoàn thiện đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý, sử dụng TSC 2017; ban hành danh mục và định mức kinh tế - kỹ thuật đặc thù cho ngành giáo dục; chuyển đổi phương thức quản lý đất đai từ giao đất không thu tiền sang cơ chế phản ánh giá trị quyền sử dụng đất vào tài sản.
- Tổ chức thực hiện: Trao quyền tự chủ thực chất cho Hội đồng trường và Hiệu trưởng trong việc quyết định đầu tư, mua sắm và thanh lý tài sản trong phạm vi nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm; bắt buộc kiểm kê thực chất và tích hợp dữ liệu thời gian thực vào CSDL quốc gia.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu tồn tại một số giới hạn học thuật cần được ghi nhận:
- Giới hạn không gian và mẫu khảo sát: Luận án mới tập trung vào 12 cơ sở GDĐH công lập tự chủ trên 2 năm theo Nghị quyết 77/2014/NQ-CP, chưa bao quát toàn bộ 170 trường đại học và cao đẳng công lập trên phạm vi cả nước.
- Giới hạn đối tượng tài sản: Đề tài chỉ phân tích chuyên sâu tài sản là nhà, đất và tài sản cố định hữu hình có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên; các tài sản vô hình (như sở hữu trí tuệ, bản quyền sáng chế, phần mềm đào tạo) và tài sản dưới 500 triệu đồng chưa được lượng hóa chi tiết.
- Giới hạn phương pháp định lượng: Việc phân tích chủ yếu dựa trên thống kê mô tả và so sánh chuỗi thời gian, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng phức tạp (như hồi quy đa biến, SEM hay DEA) để đo lường định lượng hiệu suất sử dụng tài sản (asset utilization efficiency).
Các hướng nghiên cứu tiếp theo (Future Research Agenda):
- Mở rộng phạm vi đánh giá trên toàn bộ hệ thống các trường đại học công lập đã chuyển đổi tự chủ theo Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018 (Luật số 34/2018/QH14).
- Nghiên cứu cơ chế định giá và quản trị tài sản vô hình, tài sản trí tuệ hình thành từ hoạt động nghiên cứu khoa học của đại học.
- Ứng dụng mô hình phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) để lượng hóa chính xác hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô trong khai thác tài sản công tại các trường tự chủ.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo ra tác động lan tỏa mạnh mẽ trên nhiều phương diện:
- Tác động học thuật: Đóng vai trò tài liệu tham khảo nền tảng cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính công và Quản lý giáo dục; đóng góp hệ thống khái niệm chuẩn mực vào y văn kinh tế công Việt Nam.
- Tác động chính sách: Cung cấp luận cứ thực chứng quan trọng giúp Bộ Tài chính (Cục Quản lý công sản) và Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng trong trường học, tháo gỡ các vướng mắc khi thực thi Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017.
- Tác động thực tiễn: Hỗ trợ trực tiếp ban giám hiệu và phòng chức năng tại các trường đại học tự chủ tái cấu trúc quy trình quản lý nội bộ, thiết lập quy chế quản lý tài sản minh bạch, và tối ưu hóa việc phân bổ chi phí khấu hao vào đơn giá đào tạo.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận khung phân tích chu trình vòng đời tài sản công chuẩn hóa và nguồn số liệu thực chứng chi tiết giai đoạn 2014 – 2018 tại 12 trường đại học tự chủ hàng đầu.
- Nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Bộ GD&ĐT): Sở hữu các bằng chứng thực tiễn về những điểm nghẽn thể chế để điều chỉnh quy định về định mức, thẩm quyền thanh lý và cơ chế tự chủ tài sản.
- Lãnh đạo các cơ sở GDĐH công lập: Vận dụng các nhóm giải pháp về hạch toán chi phí, phân loại tài sản theo bộ phận chức năng và quy trình kiểm kê nhằm nâng cao chỉ số an toàn tài chính.
- Xã hội và Người học: Hưởng lợi gián tiếp từ chất lượng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm hiện đại được tái đầu tư kịp thời thông qua việc quản lý tài sản công minh bạch và chống lãng phí.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Đóng góp độc đáo nhất là việc mở rộng Thuyết Quản trị quyền tài sản (Property Rights Governance Theory) và Thuyết Quản lý theo khoa học của F.W. Taylor vào lĩnh vực sự nghiệp giáo dục đại học công. Luận án đã làm sáng tỏ tính nhị nguyên của tài sản công trong trường đại học tự chủ: không đơn thuần là tài sản hành chính công ích mà là nguồn lực vốn hóa tạo ra giá trị gia tăng, đòi hỏi phải chuyển dịch từ cơ chế quản lý hiện vật thụ động sang cơ chế quản trị giá trị tài sản gắn với chi phí dịch vụ đào tạo.
2. Đột phá về phương pháp nghiên cứu khi so sánh với các công trình tiền nhiệm?
So với các nghiên cứu trước (như Nguyễn Mạnh Hùng 2009 chỉ khảo sát chung khối HCSN đến năm 2008; Phan Hữu Nghị 2009 chỉ nghiên cứu trụ sở cơ quan hành chính; Lê Thị Việt Hà 2016 chỉ nghiên cứu ngành Tòa án), luận án của Đào Thị Hương là công trình đầu tiên xây dựng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa tầng, tập trung riêng biệt vào mẫu 12 cơ sở GDĐH tự chủ theo Nghị quyết 77/NQ-CP, kết hợp trích xuất CSDL quốc gia về TSC với điều tra xã hội học 4 nhóm chủ thể (Bộ Tài chính, Bộ GD&ĐT, cán bộ quản lý tài sản và giảng viên).
3. Phát hiện thực chứng gây bất ngờ nhất được hỗ trợ bởi dữ liệu là gì?
Phát hiện cho thấy dù các trường thực hiện tự chủ tài chính theo Nghị quyết 77/NQ-CP và ngân sách nhà nước cấp cho mua sắm tài sản giảm mạnh, tỷ trọng tài sản là nhà và công trình xây dựng vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối, trong khi tỷ lệ kinh phí dành cho duy tu, bảo dưỡng định kỳ và trang thiết bị nghiên cứu khoa học chuyên sâu lại ở mức rất thấp, phản ánh tình trạng "tự chủ nửa vời" khi quyền quyết định khai thác và thanh lý tài sản vẫn bị chi phối bởi quy trình phê duyệt bao cấp.
4. Luận án có cung cấp giao thức tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Luận án xây dựng hệ thống phụ lục chi tiết gồm cấu trúc phiếu khảo sát chuẩn hóa cho từng nhóm đối tượng (Phụ lục 6, 7, 8), kết quả tổng hợp điều tra (Phụ lục 9), bảng danh mục phân loại tài sản theo công dụng, và phương pháp xác định chi phí khấu hao theo bộ phận chức năng, cho phép các nhà nghiên cứu tái lập quy trình khảo sát tại các cơ sở giáo dục khác.
5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm (2020 – 2030) được phác thảo như thế nào?
Luận án định hình chương trình nghiên cứu tiếp nối cho giai đoạn 2020 – 2030 với 3 trọng tâm: (1) Số hóa toàn diện và tích hợp công nghệ thông tin trong quản trị tài sản thời gian thực; (2) Cơ chế tài chính hạch toán tiền thuê đất và tài sản vô hình vào giá dịch vụ giáo dục đại học; (3) Hoàn thiện mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển cơ sở hạ tầng đại học thông minh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đào Thị Hương xác lập 5 đóng góp học thuật và thực tiễn mang tính then chốt:
- Hệ thống hóa và hoàn thiện khung lý luận toàn diện về tài sản công và quản lý tài sản công đặc thù tại các cơ sở giáo dục đại học công lập trong tiến trình tự chủ.
- Cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc và đáng tin cậy về thực trạng quản lý chu trình vòng đời tài sản (hình thành, sử dụng, kết thúc) tại 12 trường đại học tự chủ giai đoạn 2014 – 2018.
- Nhận diện chính xác 4 nhóm nguyên nhân gốc rễ dẫn đến hạn chế trong quản lý tài sản: sự thiếu đồng bộ của hệ thống định mức, cơ chế phân cấp chưa triệt để, hạch toán kế toán chưa phản ánh đúng khấu hao và công tác thanh tra kiểm tra còn mang tính hình thức.
- Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ 2 nhóm: nhóm giải pháp cơ chế chính sách (hoàn thiện quy định pháp luật, đổi mới cơ chế quản lý đất đai và tiêu chuẩn định mức) và nhóm giải pháp tổ chức thực hiện (nâng cao năng lực cán bộ, thực hiện kiểm kê thực chất, đẩy mạnh ứng dụng CSDL quốc gia).
- Đề xuất lộ trình thực thi khả thi gắn liền với việc phân cấp mạnh mẽ cho Hội đồng trường, mở ra không gian tự chủ thực chất nhằm bảo toàn và phát triển nguồn lực tài sản quốc gia giai đoạn 2020 – 2025, định hướng đến năm 2030.