LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án TSC là một bộ phận quan trọng của tài sản quốc gia, là nguồn lực của đất nước do Nhà nước làm chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu quản lý, sử dụng nhằm thực thi có hiệu lực và hiệu quả chức năng tổ chức và quản lý xã hội. Ở mỗi quốc gia, TSC có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất và quản lý xã hội, đồng thời việc quản lý tốt TSC luôn được coi là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chất lượng quản lý nhà nước của quốc gia đó. Cơ sở GDĐH công lập là cơ sở GDĐH do nhà nước (trung ương hoặc địa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt động chủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi.
Sự ra đời và hoạt động của các cơ sở GDĐH công lập thể hiện vai trò của Nhà nước đối với GDĐH. Nhà nước là chủ thể đặc biệt của xã hội, là người đại diện cho tất cả các thành viên trong cộng đồng, do đó nhà nước có chủ quyền đối với tài sản quốc gia, là người đại diện chủ sở hữu TSC. Với vai trò là đại diện chủ sở hữu đối với TSC, Nhà nước có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu về tài sản và giao cho các cơ sở GDĐH công lập quản lý và sử dụng để phục vụ công tác cho bộ máy của Nhà nước.
Việc hoàn thiện quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập là cần thiết vì các lý do sau: Về mặt lý luận: Thứ nhất, quản lý TSC tốt góp phần kích thích quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Những yếu kém trong quản lý và sử dụng TSC dẫn đến thất thoát, lãng phí, từ đó làm suy giảm nội lực của đất nước. Do đó cần thiết phải hoàn thiện quản lý TSC, từ đó hướng hoạt động sử dụng TSC phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Thứ hai, Chính phủ là đại diện chủ sở hữu của tất cả TSC, tuy nhiên Chính phủ giao quyền quản lý và sử dụng những TSC cho các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp sử dụng, do vậy các cơ quan, đơn vị được giao quyền quản lý và sử dụng 1 những TSC để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của nhà nước phải đảm bảo quản lý chặt chẽ TSC theo đúng quy định của pháp luật, tiết kiệm và hiệu quả.
Vì vậy, cần thiết phải hoàn thiện quản lý TSC theo hướng phân cấp cho các cơ quan chủ quản các cơ sở GDĐH công lập ở trung ương và địa phương cũng như các cơ sở GDĐH công lập nhằm quản lý chặt chẽ và hiệu quả công tác quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập. Thứ ba, TSC các cơ sở GDĐH công lập là tiền đề, là yếu tố vật chất để Nhà nước có thể tổ chức thực hiện các mục tiêu giáo dục – đào tạo đề ra. Nguồn kinh phí ban đầu của các cơ sở GDĐH công lập được Nhà nước cấp bằng nguồn vốn NSNN, do vậy công tác quản lý TSC các cơ sở GDĐH công lập cần đảm bảo quản lý chặt chẽ các khoản kinh phí bằng nguồn NSNN cho các cơ sở GDĐH công lập; đồng thời đảm bảo cơ chế quản lý các khoản kinh phí bằng nguồn kinh phí khác tại các cơ sở GDĐH công lập vừa tạo ra sự tự chủ, vừa bảo đảm cung cấp các dịch vụ về giáo dục và đào tạo phục vụ cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Thứ tư, quản lý tốt TSC các cơ sở GDĐH công lập sẽ đảm bảo việc thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho các cơ sở GDĐH công lập.
Do TSC hình thành chủ yếu từ nguồn chi tiêu công, do vậy việc sử dụng tiết kiệm, chống thất thoát lãng phí là trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan quản lý cũng như bản thân các cơ sở GDĐH công lập. Về mặt thực tiễn: Luật Quản lý, sử dụng TSNN năm 2008 là văn bản pháp luật cao nhất lần đầu tiên được ban hành ở Việt Nam về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Qua thời gian triển khai thực hiện từ 1/1/2009, công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật Quản lý, sử dụng TSNN và công tác quản lý, sử dụng TSNN cũng đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế như: cơ chế quản lý tài sản nhà nước còn phân tán, được điều chỉnh bởi nhiều luật khác nhau, chưa có luật chung để quy định những nguyên tắc thống nhất trong quản lý, sử dụng, khai thác tài sản; quy trình đầu tư, 2 mua sắm, xử lý tài sản nhà nước bị phân tán do nhiều cơ quan, đơn vị cùng làm, tính chuyên nghiệp thấp, còn nặng về hành chính, bao cấp; hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao; vai trò điều tiết của các cơ quan quản lý TSC hạn chế nên còn tình trạng nơi thừa, nơi thiếu tài sản, việc sử dụng tài sản sai công năng, sai mục đích gây lãng phí, thất thoát vẫn diễn ra; chưa tách bạch giữa nhiệm vụ quản lý về TSNN và cung cấp dịch vụ công trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; việc quản lý, sử dụng một số loại tài sản nhà nước chưa được quan tâm đúng mức, chậm đổi mới, chưa đồng bộ với cơ chế quản lý tài chính, chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới về khai thác nguồn lực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng; các cơ quan quản lý chưa nắm được tổng thể về TSNN, công tác hạch toán chưa đầy đủ, thống nhất, chưa gắn quản lý về giá trị với quản lý về hiện vật… Với những hạn chế trên, Chính phủ đã ban hành Luật số 15/2017/QH14.
Thời gian triển khai Luật mặc dù chưa dài nhưng cũng đã cho thấy một số hạn chế nhất định. Đặc biệt, quản lý, sử dụng TSC các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam vẫn còn tình trạng như: áp dụng hệ thống các tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC chưa đồng bộ, chưa thống nhất; cơ chế phân cấp quản lý chưa rõ ràng, dẫn đến việc lập hồ sơ tài sản, quản trị tài sản, kế toán tài sản, báo cáo thống kê tăng giảm tài sản, công tác bảo dưỡng, sửa chữa, đổi mới, thay thế tài sản chưa được tiến hành một cách thường xuyên; công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng TSC chưa thật sự được coi trọng; công tác chỉ đạo hướng dẫn, cập nhật văn bản quy định mới chậm so với yêu cầu quản lý. Những hạn chế, bất cập đó một mặt làm giảm hiệu quả sử dụng của TSC, mặt khác chưa đáp ứng yêu cầu quản lý TSC theo Hiến pháp sửa đổi 2013 về việc tăng cường công tác quản lý TSC ở các ĐVSN công lập nói chung. 3 Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, NCS đã lựa chọn đề tài “Quản lý tài sản công các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Bond Sandy và Dent Peter (1998), “Efficient management of public sector assets - The call for correct evaluation criteria and techniques” (Quản lý hiệu quả TSC, yêu cầu về chỉ tiêu và kỹ thuật đánh giá chính xác), Journal of Property Valuation & Investment [71]. Các tác giả đã nêu vấn đề tại Anh cũng như nhiều nước khác, cho đến nay vẫn nhiều cơ quan Chính phủ thất bại trong việc lưu trữ hồ sơ sở hữu nhà đất.
Theo các tác giả, để thực hiện quản lý chủ động các tài sản loại này, cải cách chế độ kế toán và thông tin đủ chi tiết về các danh mục đầu tư chính là ưu tiên hàng đầu cần thực hiện. Điều này cần được hỗ trợ đầy đủ bởi các phương tiện truy cập thông tin. Ngoài ra, việc hài hoà giữa mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu xã hội trong việc quản lý TSC cũng cần được tập trung xử lý bằng cách xác định rõ các mục tiêu cuối cùng, đảm bảo việc tối đa hoá lợi ích từ TSC nhưng không từ bỏ lợi ích xã hội của chúng. Đinh Học Đông (2000), “Quản lý tài sản công”, Nxb Kinh tế tài chính Trung Quốc [74].
4 Cuốn sách này đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về TSC, mối quan hệ giữa TSC và tài chính công; hiện trạng TSC và khái quát về cải cách thể chế quản lý TSC, đặc trưng cơ bản của quản lý TSC trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc trong 3 thời kỳ: thời kỳ quản lý tài sản quốc hữu trong thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung 1949 - 1978, thời kỳ cải cách thể chế quản lý tài sản quốc hữu 1979 - 1998 và thời kỳ hoàn thiện thể chế quản lý TSC 1998 - 2000. Trên cơ sở phân tích mục tiêu và hiện trạng quản lý của hai loại TSC (bao gồm TSC mang tính kinh doanh, TSC mang tính HCSN), tác giả đã nêu định hướng cải cách quản lý TSC ở Trung Quốc trong những năm tiếp theo. Trong đó, đối với quản lý TSC ở đơn vị HCSN có ba mục tiêu: sở hữu thống nhất TSC của nhà nước; quản lý trên cơ sở phân cấp của Chính phủ đối với TSC của các đơn vị HCSN và làm rõ quyền chiếm hữu và sử dụng đối với TSC. Nghiên cứu này cũng chỉ ra 3 thực trạng về quản lý TSC tại các đơn vị HCSN ở Trung Quốc là: quản lý TSC thiếu hiệu quả, tài sản tồn tại không rõ ràng; thiếu chế độ quản lý, việc bố trí tài sản chưa thống nhất với quy định; thiếu sự quản lý có hiệu quả đối với TSC mang tính HCSN phi kinh doanh chuyển sang kinh doanh.
Từ đó, tác giả đề xuất 6 vấn đề cần cải cách quản lý TSC tại các đơn vị HCSN ở quốc gia này. Conway Francisand, Charles Undelan, George Peteson, Olga Kaganova và James Mckellar (2006), “Managing Government Property Assets: International Experiences (Quản lý tài sản Chính phủ: những kinh nghiệm quốc tế)”, The Urban Institute Press, Washington DC [73].