Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý kinh phí nghiệp vụ ở đơn vị dự toán quân đội Chương 2: Thực trạng quản lý kinh phí nghiệp vụ ở Lữ đoàn Thông tin 602 – Bộ Tham mƣu Hải quân Chương 3: Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý kinh phí nghiệp vụ ở Lữ đoàn Thông tin 602 – Bộ Tham mƣu Hải quân 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KINH PHÍ NGHIỆP VỤ Ở ĐƠN VỊ DỰ TOÁN QUÂN ĐỘI 1. Một số khái niệm 1. Ngân sách, ngân sách Nhà nước, ngân sách quốc phòng 1. Ngân sách Ngân sách là thuật ngữ thƣờng dùng để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị hoặc của một cá nhân trong một thời gian nhất định.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Ngân sách, tổng số tiền thu và chi trong một thời gian nhất định của một nước, của một xí nghiệp hoặc của một cá nhân” [12, tr. Ngân sách Nhà nước Từ năm 2002, khi ban hành Luật Ngân sách Nhà nƣớc, khái niệm về ngân sách nhà nƣớc đã đƣợc xác định rất rõ: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [17, tr. Đến năm 2015, Luật Ngân sách Nhà nƣớc số 83 tiếp tục xác định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [18, tr 6]. Ngoài ra, ngân sách nhà nƣớc còn đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau, ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, nhƣ “Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định” [14, tr 65].
Nhƣ vậy về bản chất của Ngân sách Nhà nƣớc, bằng các con số thu, chi nó phản ánh các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nƣớc với các chủ thể khác 5 nhƣ: doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nƣớc gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách. Ngân sách quốc phòng Ngân sách quốc phòng (NSQP) về bản chất là Ngân sách Nhà nƣớc chi cho lĩnh vực Quốc phòng. NSQP là một phần trong Ngân sách Nhà nƣớc đƣợc chi tiêu cho công tác quốc phòng mà chủ yếu là duy trì và tăng cƣờng sức mạnh cho QĐ. Trong Đại từ điển tiếng Việt, NSQP đƣợc trình bày nhƣ sau: “Ngân sách quốc phòng, khoản kinh phí quan trọng thuộc ngân sách nhà nước dự chi hàng năm cho quốc phòng được Quốc hội phê chuẩn” [12, tr.
Tiếp cận dƣới góc độ tài chính dự toán, “Ngân sách quốc phòng là một bộ phận của ngân sách nhà nước được sử dụng trực tiếp vào việc chi phí cho quốc phòng. Theo nghĩa hẹp, ngân sách quốc phòng là quỹ tiền tệ tập trung, khâu chủ yếu của tài chính Quân đội được phân phối và sử dụng thống nhất theo sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy trung ƣơng) và Bộ Quốc phòng để thực hiện các nhiệm vụ hàng năm của Quân đội” [13, tr 31] NSQP, về hình thức là kế hoạch tài chính cơ bản, quan trọng nhất của Bộ Quốc phòng (BQP) phản ánh toàn bộ những nguồn thu chủ yếu của tài chính QĐ nhƣ: - Thu NSQP: chủ yếu từ khoản chi của NSNN cho lĩnh vực quốc phòng; các khoản thu khác: Từ các doanh nghiệp trực thuộc BQP; từ các đơn vị sử dụng ngân sách tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có thu theo chế độ của Nhà nƣớc; thu thanh lý tài sản cố định, xử lý vũ khí và các khoản thu khác. - Chi NSQP: là tổng hợp các khoản chi nhằm tăng cƣờng khả năng phòng thủ của đất nƣớc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Nội dung chủ yếu của chi quốc phòng gồm: chi để duy trì hoạt động thƣờng xuyên của lực lƣợng vũ trang; chi huấn luyện quân sự và giáo dục quốc phòng; chi đào tạo, 6 nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự; chi xây dựng công trình quốc phòng; chi bảo đảm chế độ chính sách và chi cho các hoạt động khác.
Do đặc điểm hoạt động quốc phòng nên việc tổ chức hệ thống bảo đảm chi NSQP có những nét đặc thù nhƣ: trong NSQP bao gồm ngân sách bảo đảm và ngân sách sử dụng. Ngân sách bảo đảm là khoản kinh phí thuộc NSQP dự chi hàng năm bảo đảm cho hoạt động của các ngành nghiệp vụ bảo đảm toàn quân thuộc BQP. Các ngành nghiệp vụ đảm bảo toàn quân là các cơ quan, đơn vị trực thuộc BQP hoặc trực thuộc Bộ Tổng Tham mƣu, các Tổng Cục có chức năng, nhiệm vụ bảo đảm và quản lý ngành theo các lĩnh vực hoạt động đƣợc giao. Ngân sách sử dụng là khoản kinh phí thuộc NSQP dự chi hàng năm bảo đảm cho mọi mặt hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc BQP.
Ngân sách sử dụng bao gồm: Kinh phí thƣờng xuyên, KPNV. Kinh phí nghiệp vụ, quản lý kinh phí nghiệp vụ 1. Kinh phí nghiệp vụ Khái niệm KPNV đƣợc đề cập lần đầu tại văn bản số 120/QP năm 1970 của BQP khi ban hành các quy định về lập, chấp hành và quyết toán NSQP. Cụ thể: “KPNV là các khoản chi của ngân sách quốc phòng để thực hiện các nhiệm vụ được giao hàng năm đối với các ngành nghiệp vụ”.
KPNV đƣợc bảo đảm và quản lý trên cơ sở tổ chức, biên chế, chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nƣớc và BQP về quản lý ngân sách và phƣơng thức bảo đảm của các ngành theo từng cấp. KPNV có vị trí, vai trò quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi của NSQP hàng năm, gồm nhiều nội dung, phong phú, đa dạng cho nên quản lý chặt chẽ KPNV có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý tài chính. Quản lý kinh phí nghiệp vụ Quản lý KPNV là hoạt động của các ngành nghiệp vụ và cơ quan tài chính thông qua hệ thống các phƣơng pháp tổng hợp nhằm làm cho KPNV vận động theo chiều hƣớng phân phối các yêu cầu nhiệm vụ quân sự mà QĐ 7 và cấp trên giao cho đơn vị. Quản lý tốt KPNV ở đơn vị cơ sở là một nhiệm vụ quan trọng của cơ quan tài chính và các ngành nghiệp vụ chi tiêu.
Muốn vậy, cần thực hiện tốt các yêu cầu quản lý KPNV, trong từng khâu quản lý có những biện pháp quản lý khoa học, tích cực. Nội dung quản lý kinh phí nghiệp vụ ở đơn vị dự toán Quân đội Quản lý KPNV mang tính khoa học, đòi hỏi trí tuệ tổng hợp và có sự định hƣớng rõ ràng về chiến lƣợc, chính sách, mục tiêu trong từng thời kỳ nhất định, tiến hành một cách hệ thống, toàn diện và chặt chẽ, thể hiện tập trung ở xây dựng, tổ chức thực hiện định mức chi tiêu và các khâu của chu trình quản lý ngân sách. Xây dựng định mức chi ngân sách Theo Từ điển Tiếng Việt, “Định mức là mức qui định để hoàn thành một công việc” [12, tr.642] Định mức chi ngân sách là tiêu chuẩn qui định số lƣợng ngân sách cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm nhất định hoặc hoàn thành một công việc nhất định; là số lƣợng kinh phí đƣợc bảo đảm cho một đối tƣợng nhất định trong điều kiện tổ chức nhất định tƣơng ứng với một thời gian nhất định. Định mức chi ngân sách có nhiều loại nhƣ: Định mức chi ngân sách cho một đối tƣợng đào tạo theo một bậc đào tạo nhất định; định mức chi ngân sách cho một loại đối tƣợng là vũ khí trang bị cần bảo quản, bảo dƣỡng hoặc sửa chữa; định mức chi theo tiêu chuẩn cho một cá nhân nhƣ định mức tiền lƣơng bình quân một tháng, định mức tiền ăn cho một ngƣời/ngày; định mức, tiêu chuẩn tính cho một công việc nhất định, một mục đích nhất định nhƣ: định mức chi cho một giƣờng bệnh trong một năm, định mức sửa chữa nhỏ cho một đầu xe; hoặc định mức tiêu hao vật tƣ, vật liệu tính cho một sản phẩm, định mức sử dụng tiêu thụ điện năng, định mức sử dụng xăng xe, vv.
Quản lý định mức chi ngân sách là hoạt động có tổ chức đối với việc xây dựng và hoàn thiện chi ngân sách cho một công việc, một đối tƣợng. 8 Khi xây dựng định mức phải đáp ứng đồng thời 3 nguyên tắc đó là: - Nguyên tắc thích hợp: Định mức phải hợp lý trong quản lý KPNV để động viên tích cực trong quản lý, nâng cao chất lƣợng hiệu quả sử dụng và tránh lãng phí. - Nguyên tắc bình quân tiên tiến: Định mức không quá thấp hoặc quá cao, không xác định định mức cho thời gian quá ngắn hoặc quá dài. Định mức đảm bảo mức trung bình tiên tiến để khuyến khích công tác quản lý.
- Nguyên tắc phân loại, phân cấp: Nhiệm vụ chi ngân sách khác nhau, nội dung chi ngân sách khác nhau, đối tƣợng chi ngân sách khác nhau ở các cấp khác nhau thì định mức chi ngân sách đƣợc xác định khác nhau. Xây dựng định mức đƣợc tiến hành tổng hợp bằng các phƣơng pháp nhƣ: - Cách phân tích kỹ thuật: Xác định hạn ngạch chi trên cơ sở tiến hành phân tích kỹ thuật cặn kẽ, tỉ mỉ đối với nội dung và cơ cấu của định mức. - Cách phân tích thống kê: Căn cứ vào tài liệu thống kê của định mức trƣớc đó, tìm ra xu hƣớng biến đổi của định mức, từ đó xem xét tới phƣơng hƣớng tác động và trình độ của các nhân tố kinh tế, kỹ thuật ảnh hƣởng tới định mức của từng thời kỳ nhất định trong tƣơng lai qua nghiên cứu phân tích và xác định định mức. - Theo kinh nghiệm thực tiễn và tham khảo các tài liệu kỹ thuật có liên quan đến sự biến đổi của các nhân tố kinh tế, kỹ thuật trong tƣơng lai để xác định định mức.
Định mức sử dụng trong công tác lập dự toán và trong quản lý chi KPNV thƣờng là định mức bình quân tiên tiến, tức là định mức đƣợc xây dựng trong điều kiện kinh tế, kỹ thuật nhất định, nằm vào giữa trình độ định mức bình quân thực tế và trình độ tiên tiến.