phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm có 3 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp Chƣơng 2. Thực trạng việc dạy trẻ dân tộc thiểu số 5- 6 tuổi nói đúng ngữ pháp thông qua hoạt động làm quen văn học Chƣơng 3. Biện pháp dạy trẻ dân tộc thiểu số 5- 6 tuổi nói đúng ngữ pháp thông qua hoạt động làm quen văn học 4 2.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Biện pháp Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
Nói đúng ngữ pháp Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là luyện cho trẻ nói đúng theo cấu trúc của tiếng Việt, giúp cho lời nói của trẻ có nội dung thông báo rõ ràng. Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là dạy trẻ nói đƣợc các mô hình câu, các thành phần câu cũng nhƣ vị trí của các thành phần bằng cách cho trẻ thƣờng xuyên đƣợc nghe, đƣợc nói theo các mô hình câu chuẩn để từ đó dần dần nắm đƣợc cách cấu tạo các loại câu của tiếng mẹ đẻ. Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp còn là củng cố cách sử dụng đúng một số kiểu câu, sửa một số kiểu câu sai cho trẻ, cho trẻ làm quen với các kiểu câu mới khó hơn và cuối cùng sẽ hình thành cho trẻ thói quen nói đúng ngữ pháp. Làm quen văn học Trẻ trƣớc tuổi đến trƣờng phổ thông có nhu cầu và khả năng hiểu đƣợc các tác phẩm ngắn gọn, nội dung không phức tạp, kết cấu, ngôn ngữ dễ hiểu.
Tuy vậy, do hạn chế của độ tuổi này nên trẻ chƣa tự tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm (trẻ chƣa biết chữ), chƣa tự hiểu đầy đủ về giá trị nội dung cũng nhƣ giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Việc nắm bắt tác phẩm ở trẻ dƣờng nhƣ phụ thuộc vào sự truyền thụ của giáo viên. Ở lứa tuổi này ngƣời ta chƣa thể gọi việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học là việc dạy văn cho các em mà gọi là “trẻ làm quen với văn học”. “Làm quen” chỉ ra mức độ tiếp xúc ban đầu của trẻ với văn học.
Thực chất của việc tiếp xúc này giáo viên sử dụng nghệ thuật đọc, kể diễn cảm, đọc thơ, kể chuyện cho trẻ nghe, giảng giải bằng mọi cách để giúp các em hiểu đƣợc nội dung và hình thức của tác phẩm. Trên cơ sở đó, giáo viên dạy cho trẻ đọc thuộc diễn cảm bài thơ, kể diễn cảm các câu chuyện hoặc đống kịch các tác phẩm văn học. Dân tộc thiểu số “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ đất nƣớc. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5- 6 tuổi 1.
Đặc điểm tâm lý chung của trẻ 5- 6 tuổi Chú ý: Sự phát triển của trẻ trên nền tảng của tính chủ định, biết hƣớng ý thức của mình vào các đối tƣợng gây hứng thú đối với trẻ. Trẻ có khả năng chú ý có chủ định từ 37-51 phút, nếu đối tƣợng chú ý hấp dẫn, kích thích đƣợc tính tò mò, ham hiểu biết của trẻ. Trẻ có thể phân tán sự chú ý của mình lên 2-3 nhân vật cùng lúc trong tác phẩm, khả năng di chuyển chú ý của trẻ nhanh. Chính vì sự phân tán chú ý của trẻ mạnh nên nhiều khi trẻ không tự làm chủ đƣợc bản thân mình.
Do đó, trong hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, lời kể diễn cảm của cô cùng với các thủ thuật hấp dẫn sẽ kích thích đƣợc sự tập trung chú ý của trẻ. Trẻ em luôn luôn hứng thú để chú ý một cái gì đó, sự hứng thú có thể biểu hiện dƣới nhiều hình thức chú ý khác nhau, yếu hoặc mạnh, tự động hoặc bị động. Trẻ cảm nhận tác phẩm văn học chỉ bằng cách nghe ngƣời lớn đọc kể. Cho nên điều quan trọng là ngay từ nhỏ phải dạy trẻ biết chú ý nghe, biết tiếp thu ngôn ngữ thơ ca, văn xuôi giàu tính biểu cảm, nhất là chú ý đến những từ tƣợng thanh, tƣợng hình.
Tri giác: Ở trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi, tri giác nhìn và tri giác nghe đã phát triển đáng kể. Tuỳ hoàn cảnh mà trẻ tự mình phát biểu lên những điều đã tri giác theo nhiệm vụ do cô giáo đặt ra. Điểm mới trong tri giác của trẻ là xuất hiện các hình tƣợng nghệ thuật. Việc tri giác thẩm mỹ các tác phẩm nghệ thuật của trẻ có những điểm riêng, nó có mối liện hệ chặt chẽ với cảm xúc thẩm mỹ.
Sự phát triển tri giác thẩm mỹ các tác phẩm văn học đƣợc thể hiện ở chỗ nghe và cảm thụ, không chỉ ở nội dung mà cả hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Phát triển tri giác nghệ thuật cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi có ý nghĩa to lớn, đặc biệt đối với quá trình phát triển tâm lý, làm quen và tiếp nhận tác phẩm văn học. Tư duy: trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi khao khát muốn biết hết tất cả. Điều đó, phản ánh quan niệm đơn sơ, thơ ngây của trẻ trong thế giới và trong văn học trẻ 6 thƣờng vận dụng kinh nghiệm trực tiếp.
Vì vậy cần giải thích nhất quán tạo nên một khái niệm riêng cho trẻ thì khái niệm đó có sức sống lâu bền làm tăng khát vọng của trẻ khi tìm ra chân lý. Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi bắt đầu có khả năng phân tích, tổng hợp, trẻ bắt đầu biết tƣ duy và suy diễn trừu tƣợng, thích bắt chƣớc và mô phỏng hành vi, lời nói của các nhân vật mà trẻ đƣợc xem trên truyền hình hoặc do ngƣời khác kể cho trẻ nghe. Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi đã có thể trả lời những câu hỏi thông thƣờng về nội dung mà trẻ biết. Trẻ rất thích nghe và kể lại những chuyện hấp dẫn nhƣ truyện cổ tích.
Vì vậy, trong giờ làm quen với tác phẩm văn học nếu giáo viên chuẩn bị đồ dùng tốt: tranh ảnh, mô hình…và tạo điều kiện để trẻ đóng kịch, chơi các trò chơi liên quan đến nội dung tác phẩm thì trẻ sẽ hứng thú hơn, tiếp thu bài dễ dàng hơn. Đồng thời trẻ biết vận dụng những hành vi đƣợc xem là tốt của các nhân vật trong tác phẩm vào trong cuộc sống hàng ngày ở những hoàn cảnh và quan hệ cụ thể, hợp lý. Tưởng tượng: giàu sức tƣởng tƣợng là thuộc tính của trí tuệ, gắn liền năng lực hiểu biết của trẻ. Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi là thời kì phát triển sức tƣởng tƣợng phong phú.
Khi trẻ tiếp nhận tác phẩm văn học, trẻ tiếp nhận những ấn tƣợng từ thực tại, cải biến chúng và tạo ra cách hiểu, cách cảm thụ riêng. Từ đó, xuất hiện khát vọng và khả năng sáng tạo của trẻ khi tiếp xúc với tác phẩm văn học. Với ngôn ngữ tinh tế, giàu hình ảnh là nơi để hình thành và bộc lộ tƣ tƣởng còn rất ngây thơ, ít kiểm chứng của trẻ. Nó hoạt động đƣợc là nhờ tri thức, kinh nghiệm, nhu cầu và hứng thú của trẻ.
Ngôn ngữ: Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi đã sử dụng đƣợc tiếng mẹ đẻ rõ ràng, mạch lạc và từng bƣớc thể hiện các sắc thái cảm xúc hợp lý trong hành vi, lời nói. Tác phẩm văn học chiếm một vị trí quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Thông qua tác phẩm văn học, vốn từ của trẻ đƣợc phong phú hơn, trẻ có thể sử dụng từ vào đúng mục đích, đúng hoàn cảnh. Ngoài ra, về cấu trúc ngữ pháp của trẻ cũng đƣợc phát triển, trẻ biết nói diễn cảm, biết dùng cử chỉ điệu bộ phù hợp với lời nói.
Giáo viên sẽ nắm đƣợc trình độ phát triển ngôn ngữ của trẻ, cũng nhƣ đánh giá đƣợc đặc điểm cá nhân của trẻ khi cho trẻ đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch trong hoạt động làm quen với tác phẩm văn học. 7 Tình cảm, xúc cảm: do trẻ không tự mình đọc đƣợc, không có điều kiện tự nhận ra những âm vang chứa đựng ý nghĩa của từ, câu, đoạn. Tính liên tục liền mạch của nội dung thƣờng bị gián đoạn. Cũng vì không tự đọc đƣợc tác phẩm, trẻ không chủ động tìm đến tác phẩm mà phải dựa vào cách đọc, cách kể của ngƣời lớn.
Điều này làm hạn chế vai trò của trẻ, cũng vì tiếp nhận gián tiếp nên gần nhƣ trẻ nhận lại sự tiếp nhận của ngƣời lớn .Trẻ mẫu giáo thƣờng không làm chủ đƣợc cảm xúc của mình, trẻ dễ bị xúc động. Điều này ai cũng thấy rõ, bởi vì đây là phản ứng tự nhiên của trẻ. Vấn đề quan trọng của trẻ không phải tri thức mà là cảm xúc, đó là năng lực hoá thân của trẻ, cái nhìn ngây thơ đối với các sự vật hiện tƣợng trong thiên nhiên, tự đồng nhất mình với nhân vật, cũng nhƣ hoà mình vào thiên nhiên. Suy nghĩ của trẻ xuất phát từ bản thân, lấy bản thân làm trung tâm và chỉ hƣớng vào bản thân mình là chính.
Việc cảm thụ tác phẩm văn học của trẻ mang đậm màu sắc cảm xúc. Nó biểu hiện một trạng thái chƣa ổn định, dễ dao động trƣớc những tác động ở bên ngoài. Nên khi giáo dục văn học nghệ thuật cho trẻ, ngoài kiến thức và năng lực, chủ yếu tạo phong cách sống. trẻ luôn nhìn thế giới trong tác phẩm cũng nhƣ hiện thực ngoài đời dƣới con mắt ngây thơ nên trẻ thực lòng chia sẻ, hoá thân vào nhân vật.
Do dễ xúc động nên khi tiếp nhận trẻ ít bị ràng buộc bởi lý trí. Từ điểm này tạo cho trẻ khả năng tự đặt mình vào vị trí và hoàn cảnh của nhân vật, tự tìm ra cách giải quyết truyện. Cũng nhƣ trẻ tự hoà mình vào nhân vật của truyện, hoà mình vào thiên nhiên muôn màu muôn vẻ của những bài thơ. Ngoài ra, tác phẩm văn học còn làm nảy sinh ở trẻ những xúc cảm, rung cảm thẩm mỹ đích thực.
Trẻ nhận thức rõ cái đẹp tự nhiên, cái đẹp tự tạo, cái đẹp hình thức, cái đẹp nội dung trong quá trình cảm thụ tác phẩm văn học. Qua đó, trẻ mong muốn khao khát tạo ra cái đẹp và đƣa cái đẹp vào trong cuộc sống. Đặc điểm tâm lý trẻ em dân tộc thiểu số 5- 6 tuổi Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của lứa tuổi mầm non, tức là lứa tuổi trƣớc khi đến trƣờng phổ thông. Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lý đặc trƣng của con ngƣời đã đƣợc hình thành.