Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Ngô Văn Vịnh, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Hồ Trọng Ngũ, chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (mã số: 9 38 01 04) tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Hà Nội, năm 2019).
- Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Biện pháp bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn quan trọng và được áp dụng phổ biến trong tố tụng hình sự (TTHS), giữ vai trò then chốt trong việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, thu thập chứng cứ và xử lý hành vi phạm tội. Tuy nhiên, đây là hoạt động tác động trực tiếp đến các quyền con người, quyền công dân cơ bản được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận (quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm). Trên bình diện lý luận, nhận thức về bản chất, căn cứ và mục đích của biện pháp này còn tồn tại sự thiếu thống nhất; điển hình là quan niệm sai lầm coi mục đích của việc bắt người là nhằm "tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố, xét xử", dẫn đến nguy cơ lạm dụng biện pháp bắt người để thay thế cho các hoạt động điều tra khác. Trên bình diện lập pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực với nhiều điểm mới nhưng chưa được tổng kết, phân tích toàn diện. Trên bình diện thực tiễn giai đoạn 2008 - 2017, việc áp dụng biện pháp bắt người còn bộc lộ nhiều vi phạm: tình trạng lạm dụng lệnh bắt khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang không đúng thủ tục, hoặc phê chuẩn bắt nhưng sau đó phải đình chỉ vụ án hoặc trả tự do không xử lý hình sự. Do đó, việc nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống về biện pháp bắt người là yêu cầu cấp thiết.
- Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về biện pháp bắt người trong TTHS; đánh giá thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trên phạm vi toàn quốc (2008 - 2017) của Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT); từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong bối cảnh thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
- Nghiên cứu, đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến biện pháp bắt người ở cả trong nước và ngoài nước, từ đó rút ra những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu trong luận án;
- Phân tích làm rõ thêm những vấn đề lý luận về biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS Việt Nam, như: khái niệm, đặc trưng pháp lý, phân loại biện pháp bắt người, mối quan hệ giữa biện pháp bắt người với các biện pháp ngăn chặn khác, điều chỉnh pháp luật đối với biện pháp bắt người và các yếu tố cơ bản tác động đến việc áp dụng;
- Phân tích những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về biện pháp bắt người;
- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS Việt Nam; chỉ ra những ưu điểm, tồn tại, hạn chế, vi phạm pháp luật và nguyên nhân;
- Đưa ra những dự báo khoa học về tình hình áp dụng biện pháp bắt người và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người ở nước ta.
- Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
- Câu hỏi 1: Lý luận cơ bản về biện pháp bắt người trong TTHS bao gồm những vấn đề gì?
Giả thuyết 1: Lý luận cơ bản về biện pháp bắt người rất phong phú, bao gồm khái niệm, đặc trưng pháp lý, phân loại, mối quan hệ với các biện pháp ngăn chặn khác, điều chỉnh pháp luật và các yếu tố tác động (làm rõ tại Chương 2). - Câu hỏi 2: Pháp luật TTHS Việt Nam quy định về biện pháp bắt người qua từng thời kỳ như thế nào?
Giả thuyết 2: Biện pháp bắt người được quy định từ sớm và liên tục được hoàn thiện qua các lần sửa đổi văn bản pháp lý, quy định cụ thể về trường hợp, căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng (làm rõ tại Chương 3). - Câu hỏi 3: Thực trạng áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về biện pháp bắt người trong thời gian qua như thế nào?
Giả thuyết 3: Việc áp dụng đạt nhiều kết quả tích cực, chuyển biến qua từng năm nhưng vẫn tồn tại vi phạm, sai sót bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan (làm rõ tại Chương 3). - Câu hỏi 4: Để nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật TTHS ở Việt Nam cần tiến hành các giải pháp nào?
Giả thuyết 4: Cần tiến hành đồng bộ các giải pháp: kiện toàn bộ máy cơ quan điều tra, nâng cao trình độ và đạo đức của người tiến hành tố tụng, hoàn thiện quy định pháp luật (làm rõ tại Chương 4).
- Câu hỏi 1: Lý luận cơ bản về biện pháp bắt người trong TTHS bao gồm những vấn đề gì?
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, pháp luật thực định về biện pháp bắt người trong TTHS và thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về pháp luật thực định: Nghiên cứu các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Về thực trạng áp dụng: Khảo sát, đánh giá việc thực thi các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trong khoảng thời gian 10 năm (từ năm 2008 đến hết năm 2017) trên phạm vi toàn quốc.
- Về chủ thể: Tập trung vào hoạt động áp dụng biện pháp bắt người của Cơ quan điều tra (CQĐT), trọng tâm là Cơ quan CSĐT trong Công an nhân dân (CAND).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Nhóm nghiên cứu về lý luận và quy định pháp luật: Các giáo trình chuẩn mực như Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Học viện Cảnh sát nhân dân (2005), Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), TS. Phạm Mạnh Hùng chủ biên (2016); Từ điển Bách khoa CAND (2005); các sách chuyên khảo của ThS. Nguyễn Mai Bộ (1997), TS. Nguyễn Quang Nghĩa chủ biên (2011), TS. Trần Quang Tiệp (2011), TS. Nguyễn Trọng Phúc (2015); sách bình luận khoa học của PGS. Nguyễn Ngọc Anh (2009), GS.TS Võ Khánh Vinh (2007), TS. Trần Văn Biên và TS. Đinh Thế Hưng (2017); cùng các bài viết tạp chí của ThS. Phạm Thanh Bình (1997), ThS. Đào Hữu Dân (2000), TS. Trần Quang Tiệp (2005, 2006), PGS. Nguyễn Đức Thuận (2008), ThS. Vũ Gia Lâm, TS. Mai Đắc Điện (2016), TS. Nguyễn Tiến Trường (2016). Các nghiên cứu về yếu tố tác động của Lê Thị Thu Nguyệt (2017), Nguyễn Thái Thịnh (2010).
- Nhóm nghiên cứu về thực trạng áp dụng: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Điệp (2005) khảo sát giai đoạn 1999 - 2002; sách chuyên khảo của TS. Nguyễn Trọng Phúc (2015) khảo sát ba giai đoạn (1998 - 2002, 2003 - 2008, 2009 - 2013); luận văn thạc sĩ của Đào Minh Dũng (2017) khảo sát tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011 - 2015; các luận văn nghiên cứu từng trường hợp bắt cụ thể của Bùi Thị Thảo (2007), Trần Quốc Toàn (2008), Phạm Thị Hợp (2012), Nguyễn Thị Huân (2013).
- Nhóm nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả: Công trình của Nguyễn Duy Thuân (1999), Nguyễn Văn Điệp (2005), TS. Nguyễn Trọng Phúc (2015), Đào Minh Dũng (2017), Nguyễn Văn Tình (2015), Nguyễn Đăng Dũng (2014), Trương Hùng Thanh (2013), Nguyễn Văn Lâm (2015).
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
- Các học giả Liên Xô, Đông Âu và Liên bang Nga: E. Lukianova (1974), Iu. Livsic (2001), Z. Enhikeev (1982), I. Mikhailov (2003), I. Kornukov (1985), M.S. Strogovich, O.G. Kovriga, P.V. Ruznetsov (luận án Phó tiến sĩ). Các công trình này phân tích bản chất phòng ngừa, tính cưỡng chế và căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn (BPNC).
- Tài liệu của Hoa Kỳ và các nước khác: Sách Criminal Justice của Robert M. Bohm và Keith N. Haley (1999); Investigations - 150 things you should know của Louis A. Tyska và Lawrence J. Fennelly; Handbuch fuer Kriminalisten của K. Wiesbacher (1982); sách Nghiên cứu so sánh chế độ TTHS Trung - Mỹ của Hàn Dương, Cao Vịnh, Tôn Liên Chung (2013).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu biện pháp bắt người ghép chung trong tổng thể các BPNC, số liệu khảo sát đã cũ hoặc chỉ bó hẹp trong phạm vi địa phương, chưa cập nhật đầy đủ bối cảnh thực thi Bộ luật TTHS năm 2015. Luận án này giải quyết khoảng trống thông qua việc xây dựng một công trình chuyên sâu, toàn diện: lần đầu tiên đưa ra lý luận về "điều chỉnh pháp luật đối với biện pháp bắt người", đánh giá thực trạng trên phạm vi toàn quốc suốt giai đoạn 10 năm (2008 - 2017) của Cơ quan CSĐT, và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gắn với quy định mới của Bộ luật TTHS năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật; tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực nhân dân và nhà nước pháp quyền; các quan điểm, nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp và phòng chống tội phạm (Chỉ thị số 53/CT-TW ngày 21/3/2000, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị); và các nguyên tắc bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các quan điểm lý luận, tổng hợp các tài liệu, số liệu báo cáo thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy phạm pháp luật, dữ liệu thống kê và các luận điểm khoa học.
- Phương pháp phân tích lịch sử: Khái quát quá trình phát triển của các quy định pháp luật TTHS Việt Nam về biện pháp bắt người qua các thời kỳ trước năm 2015.
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu các quy định pháp luật về bắt người của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp thống kê hình sự: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tiễn áp dụng các biện pháp bắt người của Cơ quan CSĐT từ năm 2008 đến 2017.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên môn từ các nhà khoa học, chuyên gia lý luận và cán bộ thực tiễn giàu kinh nghiệm.
- Phương pháp nghiên cứu vụ án điển hình: Tiếp cận và phân tích hồ sơ các vụ án điểm, các vụ việc áp dụng thành công hoặc bộc lộ sai phạm trong hoạt động bắt người tại một số đơn vị, địa phương.
- Phương pháp tọa đàm khoa học: Tổ chức hội thảo khoa học chuyên đề tại Khoa Luật để tiếp thu ý kiến phản biện khoa học.
- Nguồn tư liệu và dữ liệu: Số liệu thống kê chính thức từ Cục Thống kê tội phạm và công nghệ thông tin - Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao; báo cáo tổng kết thực tiễn áp dụng của Cơ quan CSĐT - Bộ Công an; hồ sơ vụ án lưu trữ; hệ thống văn bản pháp quy (Bộ luật TTHS năm 1988, 2003, 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chế định biện pháp bắt người. Tác giả phân loại các nghiên cứu trong nước thành 3 nhóm lớn (lý luận/quy định pháp luật, thực trạng áp dụng, giải pháp hoàn thiện) và phân tích các nguồn tư liệu quốc tế từ Liên Xô, Nga, Mỹ, Trung Quốc. Trên cơ sở chỉ ra những kết quả đã đạt được và các nội dung còn bỏ ngỏ của các nghiên cứu trước, chương xác lập tính cấp thiết, 5 nhiệm vụ nghiên cứu, 4 câu hỏi nghiên cứu cùng 4 giả thuyết tương ứng định hướng cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2 xây dựng hệ thống lý luận khoa học chuyên biệt về biện pháp bắt người trong TTHS:
- Định nghĩa pháp lý: Biện pháp bắt người trong TTHS là biện pháp ngăn chặn trong TTHS, do những người có thẩm quyền theo luật định tiến hành áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã hoặc người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm chưa bị khởi tố khi có những căn cứ do luật định, theo trình tự thủ tục nhất định nhằm ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự được tiến hành nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật.
- Đặc trưng pháp lý:
- Tính cưỡng chế nhà nước: Tác động trực tiếp lên thân thể, tư tưởng, tâm lý, hành vi và hạn chế quyền tự do cá nhân của người bị bắt (cách ly đối tượng ra khỏi cộng đồng xã hội trong thời gian nhất định).
- Tính ngăn chặn: Thể hiện qua 4 phương diện: ngăn chặn tội phạm đang diễn ra (bắt quả tang); ngăn chặn người bị buộc tội tiếp tục phạm tội; ngăn chặn người bị buộc tội trốn tránh pháp luật (bắt truy nã, bắt tạm giam); ngăn chặn hành vi cản trở việc xác định sự thật vụ án (tiêu hủy chứng cứ, mua chuộc, đe dọa người làm chứng, thông cung).
- Căn cứ áp dụng: Luận án chia thành 2 nhóm tài liệu, chứng cứ: (1) Nhóm tài liệu xác định một người đã thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội, đang phạm tội hoặc đã phạm tội; (2) Nhóm tài liệu xác định khả năng đối tượng cản trở xác định sự thật, bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
- Mục đích áp dụng: Xác định rõ mục đích gồm ngăn chặn tội phạm và bảo đảm hoạt động tố tụng đúng pháp luật; bác bỏ quan điểm cho rằng mục đích là "tạo thuận lợi cho điều tra" vì dễ dẫn đến lạm quyền.
- Phân loại: Phân chia theo 3 tiêu chí:
- Theo đối tượng (BLTTHS năm 2015): 5 trường hợp (bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can/bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ).
- Theo thẩm quyền: Nhóm bất kỳ ai có quyền bắt (bắt quả tang, bắt truy nã) và nhóm chỉ người có thẩm quyền TTHS được bắt (bắt khẩn cấp, bắt tạm giam, bắt dẫn độ).
- Theo thời gian: Nhóm chỉ tiến hành vào ban ngày (bắt tạm giam, bắt dẫn độ) và nhóm tiến hành bất cứ thời gian nào (bắt khẩn cấp, bắt quả tang, bắt truy nã).
- Điều chỉnh pháp luật và các yếu tố tác động: Phân tích cơ chế tác động của chất lượng quy phạm pháp luật TTHS, năng lực và phẩm chất của cán bộ tiến hành tố tụng, công tác chỉ đạo điều hành, điều kiện cơ sở vật chất và cơ chế phối hợp kiểm sát.
Chương 3: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp bắt người và thực trạng áp dụng
Chương 3 phân tích tiến trình lập pháp và thực tiễn thi hành:
- Tiến trình lập pháp: Khái quát các quy định trước năm 2015 (Bộ luật TTHS năm 1988, 2003) và làm rõ các điểm mới của Bộ luật TTHS năm 2015 (tách biệt "giữ người trong trường hợp khẩn cấp" và "bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp", bổ sung quyền của người bị bắt, chặt chẽ hóa căn cứ và thủ tục phê chuẩn).
- Thực trạng áp dụng giai đoạn 2008 - 2017: Luận án sử dụng hệ thống 10 bảng số liệu (từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.10) và 19 biểu đồ (từ Biểu đồ 3.1 đến Biểu đồ 3.19) phản ánh số liệu toàn quốc về điều tra, truy tố, xét xử, cơ cấu các trường hợp bắt và cơ cấu chủ thể bắt.
- Dữ liệu thực trạng điển hình:
| Chỉ số thống kê thực trạng áp dụng biện pháp bắt người (2008 - 2017) | Số lượng / Tỷ lệ | Nguồn trích xuất trong luận án |
|---|---|---|
| Số đối tượng VKS các cấp không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp | 1.162 đối tượng (chiếm 0,62% tổng số bắt khẩn cấp) | Thống kê VKSND tối cao (tr. 2-3) |
| Số đối tượng VKS phê chuẩn bắt khẩn cấp sau phải trả tự do không xử lý hình sự | 400 đối tượng (chiếm 0,21% tổng số bắt khẩn cấp) | Thống kê VKSND tối cao (tr. 2-3) |
| Số đối tượng bị bắt quả tang sau đó trả tự do và chuyển xử lý hành chính | 29 đối tượng | Thống kê VKSND tối cao (tr. 3) |
| Số đối tượng bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hải Dương bắt (2011 - 2015) | 4.912 đối tượng (Bắt quả tang: 3.102 chiếm 63%; Bắt tạm giam: 1.810) | Luận văn Đào Minh Dũng [27] (tr. 14-15) |
| Thống kê chức danh ĐTV và trình độ nghiệp vụ của CBCS Cơ quan CSĐT | Dữ liệu thống kê tính đến tháng 10/2017 | Bảng 3.9, Bảng 3.10, Biểu đồ 3.19 (tr. 2) |
- Tồn tại, hạn chế được chỉ ra: Tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp; bắt quả tang không lập biên bản tại chỗ; bắt không đúng thẩm quyền hoặc đối tượng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; vi phạm thời hạn thông báo cho VKS và gia đình người bị bắt; việc bắt tạm giam chưa đảm bảo căn cứ pháp lý vững chắc.
- Nguyên nhân: Phân tích nguyên nhân khách quan (sơ hở trong quy định pháp luật, thiếu văn bản hướng dẫn, chế độ chính sách và phương tiện kỹ thuật hạn chế) và nguyên nhân chủ quan (trình độ chuyên môn của ĐTV/cán bộ điều tra còn hạn chế, tư tưởng "trọng cung hơn trọng chứng", chạy theo chỉ tiêu, sa sút đạo đức nghề nghiệp).
Chương 4: Dự báo tình hình và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam
Chương 4 đưa ra các dự báo khoa học về diễn biến tội phạm, yêu cầu cải cách tư pháp và đề xuất 5 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả:
- Hoàn thiện quy định pháp luật TTHS: Tiếp tục rà soát, sửa đổi các bất cập trong Bộ luật TTHS năm 2015; ban hành các thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục bắt, giữ, bàn giao đối tượng và quy chế phối hợp giữa CQĐT và VKS.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ: Thực hiện nghiêm túc quy trình bổ nhiệm Điều tra viên; đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ, pháp luật, kỹ năng thực hành; quán triệt tư tưởng "trọng chứng hơn trọng cung"; nâng cao đạo đức nghề nghiệp và ý thức tôn trọng quyền con người.
- Tăng cường kiểm sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Nâng cao vai trò kiểm sát trực tiếp của VKS trong việc phê chuẩn và kiểm sát việc bắt, giữ; xử lý nghiêm minh mọi hành vi bắt người trái pháp luật hoặc lạm quyền.
- Tăng cường phối hợp liên ngành: Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Cơ quan CSĐT với VKSND, TAND, chính quyền cơ sở và các tổ chức quần chúng trong việc thi hành lệnh bắt, áp giải, tiếp nhận người phạm tội quả tang và người bị truy nã.
- Bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị và chế độ chính sách: Đầu tư phương tiện kỹ thuật, công cụ hỗ trợ cho lực lượng thi hành lệnh bắt nhằm bảo đảm an toàn; cải thiện điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ cho cán bộ làm công tác điều tra.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án phân tích, luận giải có hệ thống về cơ chế "điều chỉnh pháp luật đối với biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự" – một nội dung lý luận mới chưa được nghiên cứu toàn diện ở các công trình trước đó.
- Hoàn thiện định nghĩa khoa học về biện pháp bắt người; phân tích sâu sắc hai thuộc tính cơ bản là "tính cưỡng chế nhà nước" và "tính ngăn chặn"; xác lập tiêu chí phân loại mới (theo đối tượng, theo thẩm quyền, theo thời gian ngày/đêm); làm rõ mối quan hệ giữa biện pháp bắt người với các BPNC khác và loại trừ quan niệm xem bắt người là phương tiện "tạo thuận lợi cho điều tra".
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và lập pháp
- Cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện trong 10 năm (2008 - 2017) về thực trạng áp dụng biện pháp bắt người của Cơ quan CSĐT trên phạm vi toàn quốc; chỉ ra các tỷ lệ sai sót thực tế (không phê chuẩn, phê chuẩn nhưng phải đình chỉ không tội).
- Làm rõ những điểm mới và bất cập của Bộ luật TTHS năm 2015 liên quan đến biện pháp bắt người; cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan lập pháp trong việc sửa đổi, bổ sung quy phạm pháp luật và ban hành văn bản hướng dẫn thi hành.
- Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ có tính ứng dụng trực tiếp cho Cơ quan CSĐT các cấp nhằm hạn chế oan sai và nâng cao hiệu lực đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Về phạm vi số liệu thực tiễn: Luận án chủ yếu khảo sát, tổng kết số liệu thực trạng áp dụng theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 trong giai đoạn 2008 - 2017; do Bộ luật TTHS năm 2015 mới có hiệu lực tại thời điểm nghiên cứu nên chưa có đủ thời gian và dữ liệu thực tế để đánh giá toàn diện tác động của bộ luật mới.
- Về chủ thể nghiên cứu: Thực trạng áp dụng tập trung chủ yếu vào Cơ quan CSĐT thuộc ngành Công an, chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu đối với Cơ quan điều tra của VKSND tối cao, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Theo dõi, khảo sát và đánh giá toàn diện số liệu thực tiễn áp dụng các quy định về giữ người, bắt người theo Bộ luật TTHS năm 2015 sau nhiều năm thi hành.
- Mở rộng nghiên cứu thực trạng và cơ chế phối hợp áp dụng biện pháp bắt người tại các cơ quan điều tra chuyên biệt khác và các lực lượng được giao tiến hành một số hoạt động điều tra.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và tư pháp: Luận án cung cấp cơ sở lý luận và số liệu thực tiễn tin cậy để phục vụ công tác rà soát, hoàn thiện pháp luật TTHS, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng thống nhất các biện pháp ngăn chặn.
- Đối với cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Nội dung Chương 2, 3 và 4 cung cấp chỉ dẫn nghiệp vụ, phân tích các lỗi vi phạm thủ tục thường gặp, giúp người tiến hành tố tụng áp dụng đúng căn cứ, thẩm quyền, thời hạn luật định, phòng ngừa bức cung, nhục hình, oan sai và bảo đảm quyền con người.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên tại các cơ sở đào tạo luật (Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Học viện Khoa học xã hội...).
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự được luận án định nghĩa như thế nào?
Biện pháp bắt người trong TTHS là biện pháp ngăn chặn trong TTHS, do những người có thẩm quyền theo luật định tiến hành áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã hoặc người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm chưa bị khởi tố khi có những căn cứ do luật định, theo trình tự thủ tục nhất định nhằm ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự được tiến hành nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật.
2. Luận án phân loại biện pháp bắt người theo những tiêu chí nào?
Luận án phân loại theo 3 tiêu chí chính:
- Theo đối tượng bị bắt (Bộ luật TTHS năm 2015): 5 trường hợp (bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bị yêu cầu dẫn độ).
- Theo thẩm quyền áp dụng: Biện pháp do bất kỳ ai áp dụng (bắt quả tang, bắt truy nã) và biện pháp do người có thẩm quyền TTHS áp dụng (bắt khẩn cấp, bắt tạm giam, bắt dẫn độ).
- Theo thời gian áp dụng: Biện pháp chỉ tiến hành vào ban ngày (bắt tạm giam, bắt dẫn độ) và biện pháp tiến hành vào bất cứ thời gian nào kể cả ban đêm (bắt khẩn cấp, bắt quả tang, bắt truy nã).
3. Số liệu thống kê của VKSND tối cao giai đoạn 2008 - 2017 phản ánh thực trạng gì trong việc bắt khẩn cấp và bắt quả tang?
Theo số liệu của Cục Thống kê tội phạm và công nghệ thông tin - VKSND tối cao: trong 10 năm có 1.162 đối tượng VKS các cấp không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp (chiếm 0,62% tổng số đối tượng bị bắt khẩn cấp); 400 đối tượng dù được VKS phê chuẩn bắt khẩn cấp nhưng sau đó phải trả tự do không xử lý hình sự (chiếm 0,21%); và 29 đối tượng bị bắt quả tang sau đó phải trả tự do chuyển xử lý hành chính.
4. Luận án chỉ ra mục đích của biện pháp bắt người gồm những nội dung nào và bác bỏ quan điểm nào?
Luận án khẳng định biện pháp bắt người có 2 mục đích: (1) ngăn chặn tội phạm và (2) bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật. Luận án bác bỏ quan điểm cho rằng mục đích là "tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra" nhằm tránh việc lạm quyền và lấy bắt giữ thay thế cho các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ khác.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ: hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS; kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực, phẩm chất, đạo đức cán bộ điều tra; tăng cường công tác kiểm sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm; nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và chính quyền địa phương; bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và chế độ đãi ngộ cho cán bộ tiến hành tố tụng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Ngô Văn Vịnh là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về chế định biện pháp bắt người trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cả ba phương diện lý luận, lập pháp và thực tiễn thi hành. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực nghiệm 10 năm (2008 - 2017) của Cơ quan Cảnh sát điều tra trên toàn quốc, luận án đã làm rõ các sai phạm, vướng mắc thực tế và luận giải nguyên nhân cụ thể. Hệ thống lý luận mới về điều chỉnh pháp luật cùng 5 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất là cơ sở khoa học giá trị phục vụ cho việc thi hành hiệu quả Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp.