Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài bao gồm bối cảnh nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa đề tài và bố cục của bài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Hành vi Các nghiên cứu cho thấy không có một định nghĩa duy nhất nào cho khái niệm “hành vi con người”. Hiểu theo cách đơn giản nhất, hành vi chính là những gì con người thực hiện (Hernandez and Monroe, 2000).
Hiểu sâu hơn, hành vi chính là quá trình ra quyết định, tham gia thực hiện và hành động. Những biểu hiện này được xác lập khi một cá nhân (hay nhóm) cho rằng điều đó là có lợi cho họ nhất dựa trên những giá trị của họ cũng như bối cảnh kinh tế-xã hội hội và các yếu tố khác (Byers, 1996; Matarasso và Nguyễn Việt Dũng, 2002). Vì vậy, hành vi có thể là một hành động đơn lẻ hoặc tập hợp các hoạt động có thể quan sát được do các cá nhân thực hiện dựa trên những thói quen hoặc quyết định có ý thức của mình. Theo Chisnall (2001), hành vi của một cá nhân bao hàm cả những khía cạnh cá nhân và xã hội, trong đó khía cạnh cá nhân gồm có quá trình tư duy (nhận thức, năng lực tri giác, và quá trình học tập), động cơ thúc đẩy (nhu cầu, mong muốn, kỳ vọng), tính cánh cá nhân và thái độ.
Khía cạnh xã hội của hành vi con người gồm có văn hóa (đôi khi cũng được xem như là một tập hợp hành vi), giai tầng xã hội và tác động của nhóm. Theo Maslow, hành vi của con người không chỉ là các hành vi quan sát được ra bên ngoài mà hành vi còn là những phản ứng bên trong không quan sát được. Mạng xã hội Mạng xã hội là một khái niệm mà rất nhiều nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã định nghĩa dưới nhiều góc nhìn mà hiện nay, “mạng xã hội” vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức. Theo Boyd và Ellison (2007) định nghĩa, mạng xã hội là "các dịch vụ dựa trên web cho phép cá nhân xây dựng một hồ sơ công khai hoặc công khai trong một hệ thống giới hạn, công khai một danh sách các người dùng khác mà họ đã có mối quan hệ, và xem và đi qua danh sách các kết nối được tạo ra bởi những người khác trong hệ thống của họ”.
7 Theo tác giả Phạm Kim Oanh (2021), mạng xã hội một nền tảng trực tuyến, là nơi mà mọi người có thể xây dựng các mối quan hệ ảo với những người có chung tính cách, sở thích, nghề nghiệp,… hoặc với cả những người có mối quan hệ ngoài đời thực. Tại Việt Nam, tại Khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, thì mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác. Cho tới hiện nay, vẫn chưa có khái niệm chính thức cho “mạng xã hội”, nhưng qua nhiều định nghĩa dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu mạng xã hội chính là một nền tảng trực tuyến giúp mọi người có thể kết nối với nhau và xây dựng các mối quan hệ “ảo” giúp mọi người chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau. Các loại mạng xã hội Đi kèm với sự phát triển như vũ bão của ngành công nghệ thông tin trên thế giới hiện nay, nhiều loại mạng xã hội ra đời nhằm thỏa mãn và đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của con người.
Facebook: đây là một trong những trang mạng xã hội phổ biến nhất hiện nay với lượng người truy cập là 1,84 tỷ người dùng hoạt động hằng ngày (2021). Facebook là một nền tảng mạng xã hội được thành lập vào năm 2004 và có trụ sở tại Menlo Park, California, Hoa Kỳ. Khi sử dụng facebook, người dùng có thể tạo một hồ sơ tùy chỉnh tiết lộ thông tin về bản thân. Họ có thể đăng văn bản, ảnh và đa phương tiện được chia sẻ với bất kỳ người dùng nào khác đã đồng ý làm "bạn bè" của họ.
Ngoài ra, mọi người có thể chia sẻ những kiến thức kinh nghiệm cho nhau thông qua các hội nhóm trên Facebook. Youtube: được thành lập vào năm 2005, Youtube là một nền tảng mạng xã hội với tính năng chủ yếu là chia sẻ video. Thông qua Youtube, người dùng có thể học hỏi được nhiều thứ thông qua các video được chia sẻ trên nền tảng này. Linkedln: đây là một trang mạng xã hội được định hướng kinh doanh được thành lập bởi Reid Hoffman vào năm 2002, Tại Linkedln, người dùng có thể tương tác với nhau theo nhiều cách khác nhau: các kết nối có thể tương tác bằng cách chọn "thích" bài đăng và 8 "chúc mừng" người khác về các cập nhật như ngày sinh nhật, ngày kỷ niệm và vị trí mới, cũng như bằng cách nhắn tin trực tiếp; người dùng có thể chia sẻ video với văn bản và lọc Video giới thiệu của LinkedIn; Người dùng có thể viết bài đăng và bài viết trong nền tảng LinkedIn để chia sẻ với những người trong mạng lưới của họ.
Zoom: Đây là phần mềm mang đến giải pháp họp từ xa phổ biến nhất tại nhiều quốc gia, giúp người dùng có thể “gặp mặt” nhau thông qua chức năng họp từ xa. Đặc biệt vào năm 2020, lượng người dùng Zoom trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã tăng lên đáng kể do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Tại Việt Nam, nhiều trang mạng xã hội được thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu của người Việt Nam và được đông đảo người dân Việt Nam sử dụng. Zalo: Zalo được phát triển và phát hành bởi công ty cổ phần Vinagame với các tính năng đặc trưng như nhắn tin và gọi điện miễn phí, chia sẻ tập tin, thanh toán bằng thẻ tín dụng Zalo Pay,.
Voz: là một trong những trang mạng xã hội xuất hiện sớm nhất tại Việt Nam. Đây là một nền tảng giúp người dùng có thể chia sẻ học hỏi lẫn nhau về các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ. Hành vi học tập thông qua mạng xã hội Theo Nguyễn Thị Bắc (2018), hành vi học tập qua mạng xã hội của sinh viên là cách ứng xử của con người với những phương tiện nhằm đạt được mục đích của chủ thể và con người và hành vi này phải được thể hiện qua bên ngoài của cá nhân. Hành vi là một quá trình lâu dài và quá trình này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhất định, trong đó có các yếu tố chủ quan (bên trong chủ thể: nhận thức, thái độ, đặc điểm tâm lý - xã hội cá nhân,…) và yếu tố khách quan (bên ngoài chủ thể: môi trường, điều kiện sinh hoạt, hoàn cảnh xã hội,…).
Từ những định nghĩa về hành vi và mạng xã hội đã đưa ra. Ta có thể hiểu rằng, hành vi học tập thông qua mạng xã hội là những hành động sử dụng mạng xã hội nhằm đáp ứng cho mục đích học tập như: tìm kiếm thông tin, giao tiếp, tra cứu tài liệu trực tuyến, nộp bài tập trực tuyến,… Hành vi học tập thông qua mạng xã hội nhắm đến các mục tiêu cuối cùng bao gồm: nâng cao năng lực, hiệu suất và năng suất học tập, đạt được kết quả học tập cao hơn,. Thuyết về động cơ học tập của Dörnyei Trong thuyết về động cơ học tập của Dörnyei (2001) nổi bật lên ba phạm vi chính: Phạm vi về ngôn ngữ bao gồm các giá trị về văn hóa, ngôn ngữ và giá trị về ngữ dụng học cũng như thái độ của người học đối với ngôn ngữ và văn hóa đích. Những giá trị văn hóa và ngôn ngữ này được xác định trong môi trường xã hội của người học.
Ví dụ, người học sẽ có ấn tượng tốt về ngôn ngữ đích, nếu họ thường xuyên có cơ hội xem phim hay chương trình truyền hình bằng chính ngôn ngữ đó, thiết lập mối quan hệ tiếp xúc với người bản xứ, hay tham gia vào các chương trình trao đổi văn hóa,… Phạm vi người học bao gồm những yếu tố mang tính cá nhân mà người học tự phát triển trong quá trình học tập. Hai nhân tố chính góp phần vào thành công của người học đó là mong muốn đạt được thành công và sự tự tin vào chính khả năng của bản thân mình Về môi trường học tập: môi trường học tập gắn với các mô típ đặc trưng cho những khía cạnh khác nhau của việc học trong lớp học. Môi trường học tập bao gồm ba thành phần chính sau đây: + Yếu tố khóa học có tác dụng thúc đẩy động cơ học tập như chương trình giảng dạy, tài liệu và phương pháp giảng dạy, nhiệm vụ của người học. + Yếu tố đặc trưng của giảng viên đề cập đến tính cách cũng như phong cách giảng dạy và hành vi cư xử của giảng viên trong lớp học.
+ Yếu tố đặc trưng cho nhóm học: thể hiện sự hợp tác trong nhóm và sự hiểu biết thông qua các hoạt động trong giờ học. Mô hình nghiên cứu lý thuyết 2. Mô hình nghiên cứu ngoài nước 2. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM Trong nửa cuối thế kỷ 20, nhiều lý thuyết được hình thành và được kiểm nghiệm nhằm nghiên cứu sự chấp thuận công nghệ của người sử dụng.
Fishbein và Ajzen (1975) đã đề xuất Thuyết Hành Động Hợp Lý (Theory of Reasoned Action - TRA), Ajzen (1985) đề xuất Thuyết Hành Vi Dự Định (theory of planned behavior - TPB), và Davis (1986) đã đề 10 xuất Mô Hình Chấp Nhận Công Nghệ (Technology Acceptance Model - TAM). Các lý thuyết này đã được công nhận là các công cụ hữu ích trong việc dự đoán thái độ của người sử dụng. Đặc biệt, TAM đã được công nhận rộng rãi là một mô hình tin cậy và mạnh trong việc mô hình hóa việc chấp nhận công nghệ thông tin của người sử dụng. TAM thông qua các liên kết nhân quả của TRA để giải thích hành vi chấp thuận công nghệ của người sử dụng.
Mô hình này cho thấy khả năng chấp nhận của một hệ thống thông tin được xác định bởi hai yếu tố chính: nhận thức tính hữu ích (perceived usefulness) và nhận thức dễ sử dụng (perceived ease of use). Nhận thức hữu ích được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống sẽ cải thiện hiệu suất của mình.