phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung nghiên cứu của đề tài được triển khai nghiên cứu theo 3 nội dung: Thứ nhất: Những van dé lý luận về BPBĐTHADS: Trong phan này các van dé lý luận cụ thé được nghiên cứu, làm rõ gồm: - Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp bao đảm thi hành án dân sự. - Cơ sở của việc quy định biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự. - Các yếu tô ảnh hưởng đến hiệu quả của việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự. Thứ 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành về biện pháp bao dam thi hành an dân sự.
Trong phần này các vấn đề được nghiên cứu, làm rõ gồm: - Thực trạng pháp luật thi hành án dân sự việt nam về biện pháp bao đảm thi hành án dân sự. - Thực trạng áp dụng pháp luật thi hành án dân sự Việt nam hiện nay về biện pháp bảo dam thi hành án dân sự. Thứ 3: Định hướng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bao dam thi hành an dân sự tại Việt Nam hiện nay. Trong phan này các van đề được nghiên cứu, làm rõ gồm: - Định hướng trong giai đoạn hiện nay về BPBĐTHADS - Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự tại Việt Nam hiện nay.
PHAN NOI DUNG 2. NHUNG VAN DE LY LUAN VE BIEN PHAP BAO DAM THI HANH AN DAN SỰ 2. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sw 2. Khai niệm biện pháp bao dam thi hành an dan sự Trong pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam, biện pháp bao đảm thi hành án dân sự (BPBDTHADS) là một thuật ngữ pháp lý tương đối mới bởi nó chỉ được đặt tên và thừa nhận ké từ khi Việt Nam ban hành Luật thi hành án dân sự năm 2008.
Từ đó đến nay, mặc dù pháp luật thi hành án dân sự đã có những bước phát triển nhất định xong trong các văn bản pháp luật thi hành án dân sự cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thể, chính thức nào về thuật ngữ pháp lý này. Vì thế, việc nghiên cứu, tìm hiểu dé xây dựng một khái niệm khoa học thể hiện được bản chất của BPBĐTHADS ở Việt Nam là rất cần thiết. 12 TRUGNG BA! HOC LUAT HÀ NỘI Dé nghiên cứu, từ đó xây dựng được khái niệm khoa học về BPBDTHADS ở Việt Nam thì phải xuất phát từ những giải thích về những thuật ngữ pháp lý liên quan, trước hết là về thuật ngữ “thi hành án dân sự”. Nếu giải thích đơn giản về ngữ nghĩa theo từ điển Tiếng Việt thì “thi hành” được hiểu là “làm cho thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định”.
Vì thế “thi hành án” sẽ được hiểu là làm cho thành hiện thực các “án” đã được chính thức quyết định. Các “án” này thường là các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án sau khi xét xử vụ việc phát sinh tại tòa án”. Còn về thuật ngữ “dân sự” thì thường được lý giải là những gì thuộc về tư nhân, những việc thuộc về quan hệ tài sản, hôn nhân, gia đình và thuật ngữ này hay được sử dụng dé phân biệt với hình sự, hành chính. Với những giải thích về mặt ngữ nghĩa như vậy thi “thi hành án dân sự” được hiểu là làm cho thành hiện thực các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của tòa án.
Trong nghiên cứu khoa học luật thi hành án dân sự, “thi hành án dân sự” là một thuật ngữ pháp lý không chỉ đơn giản được giải thích ở mức độ ngữ nghĩa mà còn được giải thích theo nhiều góc độ khác nhau. Theo Từ dién giải thích thuật ngữ Luật học của Việt Nam thì “thi hành án” cũng được hiểu là việc thực hiện bản án, quyết định của tòa án” nên “thi hành án dân sự” cũng được sẽ được hiểu là việc thực hiện bản án, quyết định dân sự (trừ bản án, quyết định hình sự, hành chính) của tòa án. Tuy nhiên trên thực té, ngoài các ban án, quyết định dân sự có hiệu lực của Tòa án cần được thi hành thì các quyết định của các hình thức tài phán khác như quyết định của Trọng tài thương mại hay quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cũng cần thiết phải được thi hành, vì thế thuật ngữ pháp lý “thi hành án dân sự” phải được hiểu đầy đủ, toàn diện hơn, đó là việc thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án, của Trọng tài thương mại, của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh!?, Thi hành án dân sự là một loại hoạt động rất cần thiết trong đời sống xã hội bởi có thực hiện được các ban an, quyết định dân sự trên thực tế thì quyền, lợi ích ° Hoang Phê (chủ biên, 2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng — Trung tâm Từ điển học, Hà Nội — Đà Nẵng, tr.org/wiki/%C3%A In#TiME1 %BA%BFng Vi%E1%BB%87t.de/~duc/Dict/ ° Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, NXB Công an nhân dân, tr. !° Điều 1 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 cũng được xây dựng theo tỉnh thần này 13 TRƯỞNG ĐẠI HO! HÀ NỘI hợp pháp của các chủ thê trong bản án, quyết định dân sự mới thực sự có ý nghĩa, mới thực sự được bảo vệ và bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự mới thể hiện đúng tính chất của nó là được ban hành dựa trên quyền lực nhà nước, phải được nghiêm chỉnh chấp hành.
Vì thế, không chỉ được giải thích là một loại hoạt động trong đời sống xã hội, thi hành án dân sự còn được giải thích là một giai đoạn kế tiếp của giai đoạn xét xu, có mối quan hệ mật thiết với giai đoạn tố tụng trước đó nhưng van mang tính độc lập tương đối. Đã có ý kiến cho rang “tổ tụng là quá trình đi tìm chân lí để áp dụng công lí, còn thi hành án là quá trình thực thi chân lí bằng công lí””!. Vì đối tượng cần thi hành là bản án, quyết định dân sự của các hình thức tài phán tại tòa án, trọng tài hay hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh nên việc thi hành án dân sự không chỉ xuất phát từ quyền tự nguyện thực hiện bản án, quyết định của đương sự trong bản án, quyết định dân sự đã được giải quyết mà còn liên quan đến quyền lực nhà nước, đến vai trò của cơ quan nhà nước có thấm quyền sử dụng quyền lực nhà nước dé thực hiện ban án, quyết định dân sự. Đề tránh việc lạm dụng quyền lực nhà nước, dẫn đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự không khách quan, xâm phạm đến quyền tự nguyện thi hành án dân sự của đương sự thì việc sử dụng quyên lực nhà nước này phải tuân theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục chung do pháp luật quy định.
Với đặc thù này mà thuật ngữ “thi hành án dân sự” còn được giải thích dưới một góc độ khác: “là hoạt động của cơ quan nhà nước có thâm quyên, được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm thực hiện các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật”, Về thuật ngữ “biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”: Những giải thích trên về thuật ngữ “thi hành án dân sự” sẽ là cơ sở để xây dựng khái niệm “biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”. Nếu chỉ giải thích ở phương diện về ngữ nghĩa thì theo hầu hết các Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ “biện pháp” thường được hiểu là “cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một van đề cụ thể”, khá tương thích với cách giải thích trong Từ điển Luật học của đại học Oxford (Mỹ) về thi hành án: “Thi hành án là cách thức dé làm cho các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế”!$, ' Lê Minh Tâm (2001), Thứ bàn may van đề lí luận về thi hành án, Luật học (02), Hà Nội, tr. ' Lại Anh Thắng (2010), Thực hiện pháp luật về Thi hành án dân sự ở tỉnh BR-VT, Luận văn thạc sĩ luật hoc, Học viện Chính tri - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr. '3 Nguyễn Như Y (chủ biên, 1998), Dai Từ điển Tiếng Việt, Nxb.
Văn hóa — Thông tin, Hà Nội, tr. '* Oxford Reference (1994), A dictionary Law, Oxford Univerrsity Press, New York. 14 TRƯỜNG ĐẠI HOG LUẬT HÀ Nội Còn vê thuật ngữ “bao đảm” thì thuật ngữ này được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội. Tham khảo các giải thích trong Từ điển tiếng Việt thì “bảo dam” là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết?!” hay là “giữ gìn — chăm sóc — gánh vác một việc gì đó”'”.
Tham khảo Từ điển Luật học thì “bảo đảm là trách nhiệm của một chủ thé là cá nhân, tô chức phải làm cho quyên, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn thực hiện được, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường”””. Trong đời sông xã hội, bảo đảm được nhắc đến như là một cơ chế cần thiết, một cách thức phải có dé chắc chắn thực hiện được quyên, nghĩa vụ hay công việc nhất định. Đối với việc thi hành án dân sự cũng vậy, trong nhiều trường hợp nếu không có biện pháp bảo bảo đảm thi hành án dân sự thì các quyên, nghĩa vụ dân sự hay công việc nhất định đã tuyên trong bản án, quyết định đã có hiệu lực sẽ không được thực hiện. Dựa vào những giải thích về ngữ nghĩa này thì BPBDTHADS được hiểu là cách thức, là cơ chế làm cho chắc chắn việc thi hành bản án, quyết định dân sự sẽ thực hiện được trên thực tế.
Tuy nhiên, khái nệm BPBDTHADS không thể chỉ được xây dựng dựa trên những giải thích đơn thuần về mặt ngữ nghĩa như đã nêu mà cần được nghiên cứu, giải thích sâu sắc hơn, cụ thê hơn dưới góc độ là một khái niệm của khoa học luật thi hành án dân sự. Tham khảo những kết quả nghiên cứu khoa học luật thi hành án dân sự về BPBĐTHADS cho thấy đã có những giải thích khác nhau về khái niệm nay.