Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA 1. Cơ sở lý thuyết về sự biến đổi văn hóa dân tộc Thái tại huyện Quỳnh Nhai 1. Lý thuyết về biến đổi văn hóa Biến đổi văn hóa đã được đề cập đến trong các khoa học xã hội như một chủ đề trọng tâm của thế kỉ XX và thế kỉ XXI. Trên nền tảng lý thuyết đã được khái quát hóa cao như ở trên, với các nghiên cứu về hiện tượng văn hóa cụ thể, đã có những triển khai để xác định các khuynh hướng lý thuyết để làm cơ sở cho các nghiên cứu thực địa.
Các lý thuyết biến đổi văn hóa được hình thành chủ yếu dựa trên các lý thuyết về biến đổi xã hội, được các học giả phương tây đưa ra, ở đó biến đổi xã hội được hiểu là một quá trình qua đó các khuôn mẫu các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian. Với quan điểm này thì văn hóa được coi là một bộ phận của xã hội cũng không ngừng biến đổi.Ở bất cứ xã hội nào và nền văn hóa nào cho dù có bảo thủ cổ truyền đến đâu thì nó cũng luôn biến đổi. Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến nhưng ở mỗi xã hội thì nó diễn ra khác nhau với những khác biệt về phạm vi thời gian và hệ quả của nó. Đây là một quá trình mang tính chủ động tự nhiên, khách quan.
Khái niệm biến đổi không chỉ là một thuật ngữ thể hiện sự mô phỏng của một nền văn hóa mà còn chỉ định hướng giá trị, không hàm nghĩa là một phán quyết giá trị chứ không phải là một lời tường thuật về một sự kiện hay một hiện tượng xã hội. 11 Theo một số cách tiếp cân chủ yếu về biến đổi xã hội của các nhà nhân học và xã hội học thì họ dựa vào cách tiếp cận theo chu kì, các quan điểm tiến hóa, quan điểm xung đột, quan điểm hiện đại về biến đổi xã hội, để đi giải thích tại sao biến đổi xảy ra và dự đoán những biến đổi đó sẽ diễn ra trong tương lai như thế nào. Trong các tiếp cận về biến đổi văn hóa tại các vùng miền núi phía bắc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nổi lên một cách tiếp cận coi tiến trình biến đổi văn hóa phụ thuộc vào các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, tiến trình này lại mang những đặc thù của từng khu vực, cộng đồng dân cư. Sự biến đổi về kinh tế xã hội và những thay đổi về hành chính, đất đai, chính sách nông nghiệp…là những tiền đề trực tiếp tác động đến biến đổi văn hóa, với các tác giả như: Tô Duy Hợp, Nguyễn Văn Chính, Lương Hồng Quang, Nguyễn Thị Phương Châm và nhiều tác giả khác.
Từ những lý luận nêu trên biến đổi văn hóa là: Sự thay đổi những đặc điểm văn hóa trước kia so với hiện nay. Sự biến đổi đó có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực nhờ quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa theo chiều dài lịch sử. Tổng quan về huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La 1. Đặc điểm về vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên Huyện Quỳnh Nhai nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Sơn La, phía bắc giáp huyện Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu), phía tây giáp Điện Biên, đông giáp huyện Than Uyên (tỉnh Lai Châu), nam giáp huyện Thuận Châu và Mường La.
Huyện có diện tích 1.049,07 km²và dân số là 58. Huyện ly nằm ở xã Mường Giàng, cách thành phố Sơn La 60 km về hướng bắc. Quốc lộ 279 theo hướng đông bắc đi huyện Than Uyên (Lai Châu). 12 Quỳnh Nhai là huyện vùng sâu, vùng xa.
Trước năm 1908, vùng đất này thuộc châu Quỳnh Nhai, phủ Điện Biên, tỉnh Hưng Hóa. Từ năm 1948 tới năm 1953, Quỳnh Nhai thuộc Liên khu Việt Bắc. Từ năm 1953 tới năm 1955, Quỳnh Nhai thuộc khu Tây Bắc. Từ năm 1955 tới năm 1962, Quỳnh Nhai thuộc khu tự trị Thái Mèo.
Từ năm 1962 tới năm 1975, Quỳnh Nhai thuộc khu tự trị Tây Bắc (đổi tên từ khu tự trị Thái Mèo). Sau khi khu tự trị Tây Bắc giải thể, Quỳnh Nhai là huyện thuộc tỉnh Sơn La. Ngày 2 tháng 12 năm 2003, Chính phủ CHXHCN Việt Nam ban hành Nghị định số 148/2003/NĐ-CP, chuyển 25.911 ha diện tích tự nhiên và 26.659 người của các xã Mường Giàng, Chiềng Bằng, Mường Sại, Liệp Muội, Nặm Ét, Chiềng Khoang của huyện Thuận Châu về huyện Quỳnh Nhai. Quỳnh Nhai là 1 trong 3 huyện của tỉnh Sơn La phải di chuyển dân ra khỏi vùng hồ xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, huyện Quỳnh Nhai đã xây dựng 10 khu tái định cư với 65 bản cho các hộ tái định cư.
Năm 2009, Quỳnh Nhai chuyển huyện lỵ từ xã Mường Chiên đến xã Mường Giàng trên trục đấu nối quốc lộ 279 với tỉnh lộ 107 (Sơn La), cách huyện lỵ cũ là thị trấn Quỳnh Nhai (nay thuộc phần lòng hồ thủy điện) khoảng 30 km về phía hạ lưu sông Đà và xây dựng thị trấn Phiêng Lanh. Nằm ở vùng khí hậu phía bắc của Tỉnh Sơn La, huyện Quỳnh Nhai có núi cao tập trung, độ cao phổ biến trên 500m. Quỳnh Nhai mang trong mình đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa chí tuyến của miền khí hậu Bắc Bộ. Ảnh hưởng của bão, gió mùa đông bắc ít hơn vùng đông – đông nam của Tỉnh và gió tây khô nóng ít hơn vùng tây – tây nam của Tỉnh.
Mưa nhiều, nhất là mưa dông, ấm áp hơn, ít bị sương muối đe dọa là đặc điểm chủ yếu của huyện. Đất đai của huyện Quỳnh Nhai đa dạng và phức tạp với nhiều quá trình hình thành khác nhau.653 ha đất lâm nghiệp có rừng và 57.023 ha đất nông nghiệp, đất đai lại màu mỡ, phù hợp với sự sinh trưởng của cây lương thực và cây công nghiệp, Quỳnh Nhai có lợi thế trong phát triển nông – lâm nghiệp. Để khai thác lợi thế này, lãnh đạo huyện đã vận động người dân chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, đưa giống vào thâm canh, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ và phương thức sản xuất tiên tiến. Nhờ đó, đến năm 2006, sản lượng lương thực của huyện đạt 25.179,3 tấn, tăng 16,4% so với kế hoạch.
Các loại cây công nghiệp ngắn ngày như : Nhãn lồng Hưng Yên đã xuất hiện trong cơ cấu cây trồng của huyện, trong đó diện tích cây công nghiệp năm 2006 đạt 1.725,5 ha, tăng 23,3% so với năm 2005. Việc hình thành sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả đã thúc đẩy ngành nông nghiệp Quỳnh Nhai phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Bên cạnh đó công tác quản lý, bảo vệ và trồng rừng có sự chuyển biến tích cực. Toàn huyện đã trồng mới hàng trăm ha rừng tập trung, tình trạng phá rừng làm nương, khai thác lâm sản trái phép bị khống chế, góp phần nâng độ che phủ rừng lên mức 42,25% (năm 2006).
Chăn nuôi của huyện ngày càng khởi sắc. Trong những năm qua, huyện đã tập trung nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm theo hướng lai tạo,tăng nhanh số lượng và cơ cấu đàn, nhất là đàn gia súc ăn cỏ. Công tác thú y được coi trọng, đảm bảo không để xảy ra dịch bệnh lớn. Nhờ đó đến năm 2006, toàn huyện có 16.863 con dê và 384.
Đặc điểm về kinh tế - xã hội Cùng với phát triển nông - lâm nghiệp huyện còn tập trung phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Nhằm khai thác hiệu quả hai mỏ than ở Mường Chiên và Pha Khinh, đá vôi, cát sỏi và vàng sa khoang Sông Đà, cấp 14 ủy, chính quyền huyện luôn khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất – kinh doanh. Đến năm 2006, toàn huyện có 3 doanh nghiệp tư nhân, hai chi nhánh doanh nghiệp ngoài tỉnh và 4 hợp tác xã hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất gạch ngói, khai thác than, cát sỏi, chế biến lương thực, thực phẩm và lâm sản. Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh năm 2006 đạt khoảng 2,6 tỷ đồng, tăng 18,6% so với năm 2005.
Bên cạnh đó, việc mở rộng mạng lưới thương mại – dịch vụ ở trung tâm huyện lỵ, khu vực bến phà Bắc Uôn và mạng lưới chợ phiên ở các xã đã đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng ngành thương mại – dịch vụ với tốc độ tăng trưởng bình quân 16%/năm. Những bước tiến trên cả 3 lĩnh vực đã đưa nhịp độ tăng trưởng kinh tế của huyện bình quân đạt trên 10%/năm (2001 – 2005), GDP năm 2006 đạt 119,6 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ, giảm tỷ trọng nông – lâm nghiệp. Thu ngân sách trên địa bàn đạt 3,92 tỷ đồng (năm 2006), tăng 76,7% so với năm 2005.
Thu nhập bình quân đạt 3,3 triệu đồng/người/năm. Kinh tế phát triển đã tạo điều kiện để huyện tập trung phát triển văn hóa – xã hội, nâng cao đời sống văn hóa – tinh thần cho người dân. Sự nghiệp giáo dục – đào tạo được củng cố và phát triển ở tất cả các cấp học.Trong giai đoạn 2001 – 2005, số học sinh phổ thông tăng bình quân 10%/năm. 100% xã có trường, lớp học, mầm non, tiểu học và trung học cơ sở.
Tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt trên 80%.Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao.Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ được duy trì và giữ vững. Đặc biệt, năm 2006, huyện Quỳnh Nhai đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, trở thành một trong bốn điểm sáng về giáo dục – đào tạo của tỉnh Sơn La. 15 Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm , đầu tư. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố với 100% trạm y tế của 100% xã có y – bác sỹ.
Do đó, các chương trình y tế, cùng sự tăng cường đội ngũ cán bộ y, bác sỹ chuyên khoa đã góp phần triển khai có hiệu quả. Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắcxin đạt trên 85%. Bệnh viện huyện và hai phân viện Mường Giôn, Chiềng Khoang được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, cùng sự tăng cường đội ngũ cán bộ y, bác sĩ chuyên khoa đã góp phần triển khai hiệu quả chương trình khám, chữa bệnh cho người nghèo, người có công với nước và các đối tượng chính sách.