CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA VỀ BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm Các khái niệm liên quan đến luận văn gồm sinh kế, biến đổi sinh kế. Đây là những khái niệm cần được làm rõ để vận dụng, phân tích các vấn đề nghiên cứu liên quan đến nội dung của luận văn. * Sinh kế Sinh kế là vấn đề được nhiều ngành khoa học xã hội và các tổ chức phát triển trên thế giới quan tâm, nghiên cứu từ cuối những năm 80 của Thế kỷ XX.
Theo góc độ lịch sử tri thức (intellectual history), Rober Chambers là người đưa ra khái niệm “sinh kế” đầu tiên. Năm 1983, trong công trình “Rural development: Putting the last first”, Rober Chambers chính thức sử dụng khái niệm “sinh kế”. Theo Robert Chambers và Gordon Conway (1991), sinh kế bao gồm khả năng, tài sản hay những hoạt động có ý nghĩa đảm bảo cuộc sống cho con người. Sinh kế là khái niệm được nhiều học giả từ các lĩnh vực khác nhau trên thế giới quan tâm.
Nhiều định nghĩa về sinh kế đã được đề xuất bởi các nhà nghiên cứu có uy tín trên thế giới. Chẳng hạn, theo Ian Scoones (1998), “một sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm cả vật chất và các nguồn lực xã hội), và các hoạt động cần thiết cho một cách thức sinh sống”. Trong khi đó, các nhà khoa học thuộc Department for International Development (DFID), Vương quốc Anh (1999) trên cơ sở kế thừa định nghĩa của các tác giả đi trước, lại quan niệm rằng: “Sinh kế bao gồm các năng lực, tài sản (cả vật chất và các nguồn lực xã hội), và các hoạt động cần thiết để tạo nên cách kiếm sống”. Đồng thời họ đã phát triển, hoàn thiện, công bố khung sinh kế bền vững, đây được coi là kim chỉ nam của các nghiên cứu sinh kế sau này.
Ở Việt Nam chủ đề sinh kế cũng được nhiều học giả quan tâm. Theo Ngô Thị Phương Lan (2017) do sinh kế là hoạt động quan trọng trong đời sống con người và xã hội loài người nên được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau như: các loại hình kinh tế văn hóa (Đặng Nghiêm Vạn 1998), hoạt động kinh tế, hoạt động sản xuất (Phan Xuân Biên và các tác giả 1998), 8 phương thức mưu sinh (Trần Bình 2005). Còn theo Từ điển Tiếng Việt, sinh kế được hiểu là: “Việc làm để kiếm ăn, để mưu sống” (Trung tâm Từ điển học, 2008, tr. Từ các cách hiểu và khái niệm về sinh kế của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, với các cách tiếp cận, hướng nghiên cứu khác nhau, dựa theo hướng nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sẽ tiếp cận khái niệm sinh kế theo Ngô Thị Phương Lan (2017), “sinh kế được hiểu là các hoạt động phục vụ cho quá trình sinh sống của con người ở các xã hội khác nhau.
Hoạt động sinh kế là cách thức mưu sinh của con người trong các xã hội. Sinh kế vừa là sự thích nghi của con người với môi trường sinh thái đặc thù của từng vùng miền, trên nền tảng các hoạt động thích nghi chung của con người với môi trường tự nhiên, vừa là sự thích nghi với môi trường xã hội”. Chúng tôi tiếp cận khái niệm sinh kế này để phân tích cách thức mưu sinh của người Khmer nhằm thích nghi với môi trường sinh thái khu vực Bảy Núi với đặc điểm là vùng bán sơn địa, đồng thời chúng tôi cũng phân tích chiến lược chuyển đổi cách thức mưu sinh của người Khmer nhằm thích nghi trước sự tác động của nền kinh tế thị trường và các chủ trương chính sách của nhà nước. *Biến đổi sinh kế Trong quá trình tìm hiểu khái niệm “biến đổi sinh kế” chúng tôi đã đi xác định nội hàm của khái niệm này để phân tích các giá trị sinh kế truyền thống lẫn sự tác động của các yếu tố đến sự thay đổi trong hoạt trong cách kiếm sống của người Khmer ở Bảy Núi, An Giang.
Trong Từ điển tiếng Việt, “biến đổi” được định nghĩa: “là thay đổi thành khác trước, quang cảnh biến đổi, những biến đổi sâu sắc trong xã hội" (Trung tâm Từ điển học, 2008, tr. Với định nghĩa trên về sự biến đổi và khái niệm sinh kế của Ngô Thị Phương Lan thì chúng ta thấy rõ khái niệm về biển đổi sinh kế, có nghĩa là sự thay đổi về cách thức mưu sinh trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái nhất định. Biến đổi sinh kế là sự thích nghi và phát triển của cách thức mưu sinh trong xã hội phát triển. Khái niệm này không chỉ thu hút được sự quan tâm của các nhà kinh tế học mà còn là chủ đề được nhiều ngành khoa học xã hội khác tìm hiểu như dân tộc 9 học, tâm lý học, xã hội học, văn hóa học, khu vực học, đặc biệt là nhân học, ngành học nghiên cứu về tính toàn diện và sự đa dạng của con người trên các khía cạnh khác nhau.
Theo Ngô Thị Phương Lan (2017) với việc nghiên cứu và miêu tả các phương thức mưu sinh để từ đó tìm ra các điểm tương đồng hay dị biệt trong sinh kế của các tộc người, tìm hiểu lịch sử phát triển của chiến lược tìm kiếm thực phẩm của con người hay tìm ra các quy luật gắn với dạng thức kinh tế này (Morgan 1877, White 1949, Steward 1955). Lý thuyết tiếp cận Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng ba lý thuyết để giải thích quá trình biến đổi sinh kế của cư dân vùng Bảy Núi đó là: Lý thuyết sinh thái học văn hóa, lý thuyết lựa chọn duy lý và cách tiếp cận duy tình. - Lý thuyết sinh thái học văn hóa Một tiếp cận lý thuyết nhân học phân tích và giải thích mối quan hệ giữa con người với môi trường và sự thích nghi của con người với môi trường sống cụ thể là sinh thái học văn hóa (cultural ecology). Mối quan hệ giữa con người và môi trường từ lâu đã được các nhà nhân học quan tâm ở hai chiều cạnh: sinh học và văn hóa.
Ở chiều cạnh văn hóa, các nhà nhân học quan tâm đến mối quan hệ giữa con người, văn hóa và môi trường. Các nghiên cứu nhân học sinh thái trước những năm 1950 có hai quan điểm chủ đạo, đó là quan điểm quyết định luận môi trường (environmental determinism) và quan điểm khả năng môi trường (environmental possibilism). Quan điểm quyết định luận môi trường cho rằng môi trường chi phối văn hóa và ứng xử của con người, trong khi quan điểm khả năng môi trường thừa nhận dù môi trường chi phối văn hóa những con người cũng có sự chủ động trong việc thích nghi với môi trường sống cụ thể. Môi trường đặt ra một số giới hạn tuy nhiên lại mở ra một số các khả năng khác cho các nền văn hóa.
Các nền văn hóa sẽ lựa chọn các khả năng thích hợp để thích nghi với một môi trường cụ thể. Các môi trường cung cấp được khai thác như thế nào thì phụ thuộc vào khả năng của các nền văn hóa. Một trong những hướng tiếp cận của thuyết khả năng môi trường là sinh thái văn hóa (cultural ecology) (Ngô Thị Phương Lan, 2016). Nhà nhân học có 10 ảnh hưởng lớn đến sinh thái học văn hóa là Julian Steward.
Lý thuyết của Steward được thể hiện hoàn thiện nhất trong cuốn sách Theory of Culture Change: The Methodology of Multilinear Evolution (1955), một tuyển tập gồm các công trình được Steward công bố trong 20 năm nghiên cứu trước đó. Steward nhìn nhận môi trường không hoàn toàn là nhân tố quy định ứng xử và văn hóa của con người, mà còn là nhân tố địa phương cần có cho những sự thích nghi của con người với môi trường sống cụ thể. Theo cách tiếp cận này, môi trường địa phương không hề đơn nhất mà thể hiện sự đa dạng. Từ đó, ứng xử của con người với môi trường địa phương cũng không hề đồng nhất mà có sự thích nghi sáng tạo mang tính chủ động của con người đối với môi trường sống ở từng địa phương cụ thể.
Ông nhấn mạnh rằng con người có sự chủ động, sáng tạo trong việc thích nghi với môi trường sống cụ thể của họ. Theo đó, các thiết chế văn hóa như nhà ở, trang phục, hình thức canh tác, công cụ sản xuất, ẩm thực,. đều là những sản phẩm do con người kiến tạo để thích nghi với môi trường sống ở các địa phương cụ thể. Điều này khẳng định sự phát triển của các cộng đồng là quá trình thích nghi của họ đối với từng môi trường sống cụ thể của họ.
Quá trình thích nghi là minh chứng cho sự tiến hóa của cộng đồng. Cách tiếp cận này của Steward cho thấy sự tiến hóa văn hóa mang tính đa tuyến, vì nó khẳng định rằng biến đổi văn hóa bao gồm các quá trình thích nghi liên tục, phức tạp, chứ không phải là các sự kiện hay các hành động mang tính luật phổ quát. Vận dụng lý thuyết sinh thái học văn hóa của Julian Steward vào phân tích sinh kế của các cá thể, hộ hoặc cộng đồng cụ thể nào đó cho phép nhà nghiên cứu nhìn nhận các chiến lược mưu sinh như một sự thích nghi đầy tính sáng tạo của con người đối với từng môi trường sống cụ thể. Theo đó, quá trình hình thành phương thức sinh kế của người Khmer ở Bảy Núi, An Giang là quá trình thích nghi của tộc người này với môi trường bán sơn địa.
Họ đã thích ứng với môi trường bằng các phương thức sinh kế như trồng trọt, khai thác tài nguyên tự nhiên (săn bắt, hái lượm) để phục vụ cho nhu cầu sinh tồn của mình từ đó hình thành nên tập quán sản xuất của cộng đồng người Khmer nơi đây. Trong những năm gần đây, dưới tác động của chính sách phát triển nông nghiệp, 11 quản lý tài nguyên rừng, cũng như sự khai thác quá mức các sản vật tự nhiên và biến đổi khí hậu (BĐKH) đã làm thay đổi môi trường sinh thái dẫn đến sự biến đổi tập quán sản xuất của người Khmer Bảy Núi. - Lý thuyết lựa chọn duy lý và hướng tiếp cận duy tình Lý thuyết lựa chọn duy lý (rational choice theory) là một trong các dạng thức lý thuyết lớn giúp nhà nghiên cứu hiểu được tính duy lý trong hành vi và ứng xử của con người. Ra đời trong kinh tế học, gắn với các nghiên cứu của Adam Smith ở thế kỷ XVIII, lý thuyết làm chọn duy lý lý giải những hành xử của con người theo cách toan tính hợp lý để đạt được các lợi ích tối đa.