Chương 1: Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hoá tinh thần người Việt. Chương 2: Sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TINH THẦN NGƢỜI VIỆT 1. Nhân sinh quan Phật giáo 1.
Vị trí nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo. Về bản chất, tôn giáo không chỉ là hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã hội. Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Điều này được Ph.Angghen nêu: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [16, tr.37] Điều này có nghĩa là con người sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người.
Song tôn giáo lại ảnh hưởng đến đời sống của con người trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Phật giáo – một trong mười tôn giáo lớn trên thế giới, ra đời hơn 2500 năm nay và được truyền bá tới nhiều nước trên thế giới như: Xrilanca, Xiry, Ai Cập, Mianma, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam, một phần Anh, Pháp, Đức…và nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tính thế giới. Trong quá trình du nhập trải qua các thời kỳ lịch sử, Phật giáo lại phụ thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia mà biến đổi ít nhiều. Có thể nói sự ảnh hưởng của Phật giáo vào xã hội loài người đã diễn ra rất sớm và nhanh chóng.
Ngày nay, Phật giáo đang chiếm vị trí sâu rộng trong đời sống tinh thần của con người ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ VI TCN. Người sáng lập Phật giáo là Thái tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn, trị vì một xứ nhỏ ở trung lưu sông Hằng là Ca tỳ la vệ (nước Nêpan hiện nay). Cuộc sống giàu sang nơi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cung đình đã tạo cho ông một lối sống ngăn cách với xã hội bên ngoài: ông chỉ biết có học hành, lễ bái, yến tiệc và giải trí.
Vì vậy ông không hay biết những gì cực nhọc, đen tối, bất hạnh đang diễn ra ở ngoài xã hội. Sau 4 lần trực tiếp đi ra ngoài thành và tận mắt chứng kiến nỗi khổ của các chúng sinh, ông khởi lòng xót thương chúng sinh vô hạn và đã quyết noi theo gương các đạo sĩ quyết tâm đi tìm đường cứu khổ cho chúng sinh. Năm 19 tuổi ông một mình bỏ nhà ra đi để trở thành một ẩn tu. Sau 11 năm học đạo và tu khổ hạnh ông chợt nhận thấy rằng, lối tu đó cũng không giải thoát con người khỏi nỗi đau sinh, lão, bệnh, tử.
Theo ông, tu khổ hạnh hay chủ trương khoái lạc cũng đều là những cực đoan phi lý như nhau. Bằng sự kiên trì và nhạy cảm của trí tuệ, sau 49 ngày đêm ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ đề, với những suy tư sâu thẳm, ông đã giác ngộ được chân lý. Lúc này Tất Đạt Đa đã chỉ ra rằng chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ, hơn thế nữa ông còn lý giải được nguồn gốc nỗi khổ của chúng sinh cũng như tìm ra được phương pháp giải thoát diệt khổ. Từ đó ông được gọi là Thích Ca Mâu Ni – tức người đã giác ngộ chân lý đầu tiên.
Là một tôn giáo, Phật giáo ra đời nhằm xoa dịu nỗi khổ của con người trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội Ấn Độ cổ đại. Sinh thời, Đức Phật không viết sách mà chỉ thuyết giảng cho các học trò của mình bằng lời nói. Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, các đệ tử đã tập hợp, phát triển tư tưởng của Người để xây dựng một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh được đúc kết thành ba Tạng (Tam Tạng), đó là: Tạng Kinh, Tạng Luật, Tạng Luận. Về sau Phật giáo chia thành Tiểu thừa và Đại thừa với nhiều tông phái khác nhau, du nhập và phát triển ra nhiều nước khác trên thế giới.
Dù đã trải qua lịch sử thăng trầm hơn 2500 năm, với nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, nhưng Phật giáo, mà trước hết là triết lý nhân sinh của nó giàu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lòng vị tha, thương người, gần gũi với con người và mang nặng tính nhân sinh hơn các tôn giáo khác. Giáo lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm về nhận thức luận, thế giới quan, nhân sinh quan với một kết cấu chặt chẽ. Nhân sinh quan Phật giáo được bắt nguồn từ thế giới quan. Tuy nhiên mục đích chủ yếu của Phật giáo là cứu khổ cứu nạn, giải phóng con người cho nên nó mang giá trị nhân sinh sâu sắc.
Nếu như triết học phương Tây chú trọng nghiên cứu thế giới, tìm hiểu giới tự nhiên, xây dựng nên các học thuyết, các cặp phạm trù, v.v…thì triết học phương Đông (Trong đó có triết học Phật giáo) lại nghiêng về việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, đặc biệt là vấn đề con người hơn là việc tìm hiểu giới tự nhiên. Triết học phương Đông nghiên cứu thế giới để làm sáng tỏ con người. Mục đích nhận thức thế giới của triết học đều nhằm phục vụ cho đời sống của con người và xã hội. Cũng như nhiều trào lưu tư tưởng triết học phương Đông, Phật giáo đề cao và nhấn mạnh vấn đề nhân sinh.
Điều này góp phần lý giải vì sao mặt vũ trụ quan, thế giới quan của Phật giáo, nhất là Phật giáo nguyên thủy hơi mờ nhạt trong khi nội dung nhân sinh quan lại khá rõ ràng và mang tính nổi trội. Mục đích cuối cùng của Phật giáo là giải thoát con người khỏi nỗi khổ trần thế thông qua con đường tu tập về mặt tâm linh. Do đó, Phật giáo hầu như không đề cập và không có chủ trương giải quyết những vấn đề có tính chất siêu hình. Khi các đệ tử hỏi Đức Phật về vấn đề siêu hình trừu tượng như vũ trụ có vĩnh hằng không? Nó vô hạn hay hữu hạn? Linh hồn và thể xác là một hay khác nhau? Như Lai sau khi chết có tồn tại hay không?.thì Người im lặng vì mục đích chủ yếu là cứu khổ cho con người.
Điều đó không có nghĩa rằng Đức Phật không biết những điều trên đây mà thực ra Đức Phật chỉ chú tâm thuyết giảng những điều để chúng sinh biết được con đường đi đến giải thoát theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com căn cơ của chúng sinh thời bấy giờ. Khi thuyết giảng tại một khu rừng Người đã cầm một nắm lá giơ lên nói: Những điều mà Như Lai nói nhiều như nắm lá trong bàn tay này, những điều mà Như Lai biết nhiều như lá trong khu rừng này. Như vậy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Phật giáo là con người, là giá trị nhân sinh. Phật giáo ra đời là tiếng nói phủ nhận uy thế của kinh Vêđa và đạo Bà la môn, tố cáo chế độ phân biệt đẳng cấp khắt khe của xã hội Ấn Độ, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, xóa bỏ nỗi khổ trong đời sống của người dân Ấn Độ.
Đức Phật tuyên bố: không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn, con người sinh ra không phải đã mang sẵn trong bào thai dây chuyền ở cổ hay dấu tin ca (dấu hiệu quý phái của dòng Bà la môn) trên trán. Qua đó thể hiện mặt tích cực của nhân sinh quan Phật giáo trong lĩnh vực xã hội. Có thể nói, nguyện vọng cứu khổ của Đức Phật mang tính nhân văn sâu sắc. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nhân sinh quan Phật giáo chịu sự qui định của tồn tại xã hội và tác động của các hình thái ý thức xã hội khác.
Điều này giải thích tại sao trong lịch sử tồn tại và phát triển, nhân sinh quan Phật giáo có sự biến đổi, không còn giữ nguyên như ở Phật giáo nguyên thủy. Nghiên cứu chi tiết cho thấy, các phái Phật giáo có những quan niệm khác nhau về nhân sinh. Phật giáo Tiểu thừa coi trọng xuất gia khổ hạnh, chủ trương “ngã không pháp hữu”, đề cao sự giải thoát chính mình. Tư tưởng chủ yếu của Phật giáo Tiểu thừa là “tịnh độ” và “xuất thế gian”, nhấn mạnh cuộc đời là bể khổ mà nguyên nhân là do “Thập nhị nhân duyên”.
Mục đích thoát khổ là phải xuất thế gian, xa rời cuộc sống phàm tục, diệt dục mới có thể rũ bỏ bụi trần để đạt tới cảnh giới Niết bàn. Còn Phật giáo Đại thừa không quá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đề cao xuất gia khổ hạnh, chủ trương “ngã pháp đều không”, tự giác ngộ và giác ngộ người khác, mục đích tu tập trở thành Phật. Giới luật của Đại thừa cũng có nhiều biến đổi khác với giới luật của Tiểu thừa. Nếu giới luật của Tiểu thừa tập trung vào việc đạt quả phúc cho mình, thì giới luật của Đại thừa lại thường hướng đến lợi ích cho người khác.
Phật giáo Đại thừa về sau phát triển và lại chia thành nhiều bộ phái khác nhau, xuất phát từ Ấn Độ và truyền bá ra các nước xung quanh. Triết lý Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đã biến đổi, phát triển ngày càng đa dạng, phong phú để thích nghi với truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc trong những thời kỳ lịch sử nhất định. Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống gồm các quan điểm về con người, đời sống của con người. Phật giáo tập trung ở học thuyết cấu tạo con người, học thuyết về sự xuất hiện và tái sinh.
Theo Phật, con người được cấu tạo từ những yếu tố thể hiện trong thuyết Danh sắc và thuyết Lục đại. Thuyết Danh sắc: con người được cấu tạo từ hai yếu tố vật chất và tinh thần.