chương I, II, III trình bày triết học Phật giáo theo xu hướng hệ thống. Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày sáu nguyên lý căn bản trong triết học Phật giáo. Những nội dung biểu đạt của nhân sinh quan Phật giáo được trình bày trong các nguyên lý này và tác giả chỉ ra cốt lõi quan niệm nhân sinh của Phật giáo. Theo đạo Phật, “tất cả mọi loài chúng sinh đã nhận đời sống hiện tại như là kết quả tự tạo và ngay ở hiện tại, chúng cũng đang tự tạo lấy” [130, 59].
Đức Dalai Lama và Jean Claude Carriere với công trình Sức mạnh của Đạo Phật (2008) do Lê Việt Liên dịch ra tiếng Việt, Nxb Lao Động. Cuốn sách bàn về cuộc đàm đạo giữa Đức Dalai Lama và Jean Claude Carriere về những vấn đề xã hội hiện đại như: môi trường, dân số, chiến tranh… Trong khi con người luôn tham vọng chạy đua với những đỉnh cao của cuộc sống, thì đời sống tâm linh, cái Đạo, cái Tâm, cái Thiện trong mỗi con người sẽ bị thu nhỏ lại. Vì thế, hơn một lúc nào hết con người cần thức tỉnh lại. Để thức tỉnh thì con người cần tìm đến tôn giáo và tôn giáo đáp ứng được nhu cầu thức tỉnh chính là Phật giáo.
Những tư tưởng về vô ngã, vô thường, giải thoát, tâm, bình đẳng, tứ vô lượng tâm… trở thành sức mạnh cho con người thay đổi để sống tốt hơn trong thế giới ngày nay. Dưới nhãn quan chính trị của các học giả hiện nay, các tác giả có cách nhìn xuyên suốt về sự phát triển của Phật giáo, đồng thời Phật giáo ngày càng nhập thế trong xã hội đương đại, quan tâm nhiều đến những vấn đề của thế giới hiện sinh. Luận án thấy được tính mới của Phật giáo trong xã hội thế tục hiện đại và đánh giá cao cống hiến giá trị Phật giáo bàn về con người và về cuộc đời con người. Đây là công trình tập hợp các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về triết học Phật giáo đã khẳng định “giá trị của Phật giáo cần phải được hiểu gắn liền với bối cảnh và mục đích của nó là đến giải thoát, đạt đến Niết Bàn” [188, 5].
Trong tác phẩm này, các tác giả đều cho rằng luật nhân quả là nguồn gốc và cội rễ của sự vô thường của thế giới. Tưởng Gia Kiều với công trình Đại cương triết học Phật giáo (2016) do Nxb Hồng Đức. Trong cuốn sách này, tác giả đã bàn hai nội dung cơ bản của Phật giáo: 1) giáo lý của Phật giáo mà trọng tâm là luật nhân quả và Thuyết thật document, khoa luan17 of 98. tai lieu, luan van18 of 98.
12 tướng (bản thể thực tại vũ trụ); 2) giải thoát của Phật giáo trong đó có sự đối sánh giữa “chủ nghĩa tiêu cực Tiểu thừa” và “Chủ nghĩa tích cực Đại thừa” trong giải quyết vấn đề xuất phát điểm, thật chất và hình thức giải thoát. Quan trọng hơn cả, tác giả cho rằng, lập trường của triết học Phật giáo là nhất nguyên luận và phiếm thần luận. Yamakami Sogen với công trình Nguyên lý vô thường trong triết học Phật giáo (2016) do Tuệ Hạnh dịch đã khẳng định ba nguyên lý căn bản của Phật giáo là vô thường, vô ngã, và Niết bàn tịch tịch. Toàn bộ cấu trúc của Phật giáo đều bàn về ba nguyên lý này: Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo tiểu thừa, Phật giáo đại thừa.
Tác giả cho rằng, sự vô thường của sinh diệt, vô thường của tính không đều dựa trên cơ sở luật nhân quả. Tóm lại, dưới góc độ triết học, các học giả nước ngoài đã khái quát hóa các nội dung cơ bản của hệ thống triết học Phật giáo. Nội dung các nhà nghiên cứu nước ngoài thống nhất bàn về Vô thường, vô ngã, nhân - quả, duyên khởi, nghiệp, khổ, giải thoát, Niết bàn, Tứ diệu đế trong triết lý nhân sinh quan Phật giáo hay khái quát những ưu điểm và hạn chế trong nhân sinh quan Phật giáo. Đây là những nghiên cứu có giá trị của các học giả nước ngoài về thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo cùng những tư liệu quý về Phật giáo nguyên thủy là những khảo cứu hữu ích cho tác giả luận án.
Các công trình nghiên cứu trong nước Bên cạnh các tác phẩm của các cao tăng nước ngoài nghiên cứu về Đạo Phật các cao tăng và các nhà nghiên cứu trong nước cũng có nhiều tác phẩm luận, giải nghiên cứu về Đạo Phật góp phần truyền bá làm rõ các tư tưởng giáo lý của Đạo Phật. Có thể kể đến: Phan Văn Hùm với công trình Phật giáo triết học (1943) đã phân tích các vấn đề tâm và vật, Ngũ uẩn, Nghiệp, Thiền định. Theo tác giả, “cả triết học Phật giáo gom lại chỉ quanh quẩn giải quyết thập nhị nhân duyên và tứ diệu đế” [70, 81-82]. Từ đó, tác giả bàn đến việc đức Phật nhập diệt và sự phát của triết học Phật giáo sau này.
Tác giả tiếp cận Phật giáo dưới góc độ triết học, nên công trình bàn chủ yếu về bản thể luận và nhận thức luận của Phật giáo. Nội dung của Phật giáo gồm thế giới quan và nhân sinh quan, nhưng tác giả nhấn mạnh, cốt lõi trong triết học Phật giáo là nhân sinh quan. Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến nhiều nội dung trong nhân sinh quan Phật giáo cần luận giải một cách đầy đủ, chi tiết và cụ thể. Toan Ánh với công trình Nếp cũ (1992) do Nxb TP.
Hồ Chí Minh, quyển thượng với tiêu đề Tín ngưỡng Việt Nam phần Phật giáo. Ngoài việc giới thiệu document, khoa luan18 of 98. tai lieu, luan van19 of 98. 13 sơ lược về đạo Phật còn đề cập tương đối đầy đủ và chi tiết một số lễ nghi chính của Phật giáo và cách thức tiến hành các nghi lễ đó thời xưa.
Đây là nguồn tư liệu quý giá để đối chiếu với quy trình tiến hành các lễ thức đó ngày nay. Tuy nhiên, một số nghi lễ được mô tả trong cuốn sách này không còn được thực hành ở các chùa.Thích Thiện Hoa với công trình Phật học phổ thông (3 quyển) (1997) do Thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh xuất bản. Đây là công trình phổ thông tìm hiểu về các giáo lý của Phật giáo. Dưới cách tiếp cận lịch sử Phật giáo, tác giả đã đem lại cho người đọc có cái nhìn tổng quan về Phật giáo và các giáo lý Phật giáo.
Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày Phật giáo từ các khái niệm cơ bản đến các giáo lý, giáo điều của Phật giáo, từ những giáo lý căn bản như: ngũ giới, sám hối… đến các giáo lý sâu xa của Phật giáo. Tỳ kheo Thích Tâm Thiện với cuốn sách Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo (1998) do Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh xuất bản. Đây là cuốn sách nhập môn Phật học.
Tác giả phân tích vị trí và giá trị của Phật giáo với những nguyên lý nền tảng của Phật giáo. Tác giả trình bày Duyên sinh - Vô ngã trong các bộ kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Già,. Từ góc độ triết học, tác giả đã giới thiệu về bối cảnh lịch sử xã hội và triết học Ấn Độ với bốn thời kỳ kiết tập kinh điển Phật giáo. Tác giả đã đưa ra 10 kết luận về giáo lý Duyên sinh - Vô ngã trong thời kỳ Phật giáo nguyên thủy.
Tuy nhiên, trong tác phẩm này, tác giả mới trình bày nhân sinh quan Phật giáo nguyên thủy ở mức độ cơ bản, bước đầu sơ khai, vấn đề này cần đầu tư công phu hơn nữa. Thích Minh Châu với công trình Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi (1999) do Nxb Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản. Cuốn sách là tập hợp những bài viết bài phát biểu của hòa thượng Thích Minh Châu về tinh thần của Đạo Phật trong cuộc sống và vai trò của Đạo Phật đối với một số lĩnh vực xã hội hiện đại. Hòa thượng đã khẳng định tinh thần của Đạo Phật với các đệ tử là phải tự mình tìm con đường cho chính mình, không được dựa vào người khác “Hãy sống.
Tự làm hòn đảo của chính mình, này các Tỷ kheo, hãy nương tựa chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy Pháp là hòn đảo, lấy Pháp làm chỗ nương tựa” [15, 18]. Trên tinh thần đó tác giả cũng đã khẳng định vai trò của Đạo phật với nền trật tự đạo đức mới và một số lĩnh vực khác “Đạo Phật đề cao nỗ lực của toàn thể cá thể hay cá nhân, hướng tới tạo ra giữa các dân tộc, giữa các quốc gia cũng như giữa con người với nhau một bầu không khí thông cảm lẫn nhau, tin tưởng và kính trọng lẫn nhau, loại bỏ mọi thành kiến, như tự ti mặc cảm, tự cao, tự đại, rất hại đến nhân phẩm và giá trị con người” [15, 210]. document, khoa luan19 of 98.
tai lieu, luan van20 of 98. 14 Đoàn Trung Còn với công trình Triết lý nhà Phật (2013) do Nxb Tôn giáo đã nghiên cứu tư tưởng triết lý nhân sinh quan Phật giáo thông qua những tích truyện về Tứ đại, về Trí Huệ, về Trung Đạo, về Bầy khỉ… cùng những lời bình luận của tác giả để nói về vô thường, vô ngã, Thập nhị nhân duyên, nghiệp báo luân hồi. Qua đó, theo tác giả “Đạo Phật dù chia ra nhiều tông phái, chung quy cũng là để đưa con người đến chỗ giải thoát rốt ráo mà thôi” [19, 7]. Nguyễn Tiến Nghị với bài viết Quan niệm về nhân quả trong triết học Phật giáo (2016) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học (số 11) đã chỉ ra Nhân, Duyên và Quả là ba phạm trù cơ bản là của thuyết Nhân quả, trong vạn vật, trong mọi sự vật hiện tượng, kể cả kiếp người tất cả đều bắt nguồn từ quan hệ nhân quả, nghiệp báo, luân hồi.
Thông qua thuyết Nhân quả của nhà Phật, lý giải tính duy vật biện chứng, giúp con người hiểu cuộc đời không phải là định mệnh hay do thần thánh điều khiển như một số người lầm tưởng, mà tất cả đều có quy luật mà nên. Hội thảo khoa học Trần Nhân Tông và Phật giáo Trúc Lâm - đặc sắc tư tưởng, văn hóa (2018) ở Yên Tử. Trong đó có bài viết Nhân sinh quan Phật giáo và những vấn nạn của của xã hội đương thời của TT. Thích Hạnh Tuệ.
Theo tác giả, giáo lý Phật giáo mọi hình thái khổ đau của con người không phải do thần thánh mà bắt nguồn từ lòng tham lam, khát ái, tham dục của chính con người. Những gì xảy ra cho con người và tự nhiên cần kiểm chứng qua thời gian trước những lời dạy này của đức Phật qua những vấn nạn mà nhân loại ngày nay đang đối mặt.