PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng nhân sinh quan cho con ngƣời Việt Nam là một vấn đề có vai trò và ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nƣớc Việt Nam. Bởi nó góp phần đào tạo nên những con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, là nhân tố quyết định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cùng với việc chăm lo phát triển đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm, chú trọng đặc biệt đến giáo dục, bồi dƣỡng nhân sinh quan cho mỗi con ngƣời Việt Nam.
Xây dựng nhân sinh quan cho con ngƣời Việt Nam - một vấn đề không chỉ mang tính thời sự cấp bách mà còn là chiến lƣợc lâu dài của dân tộc Việt Nam, vì thế Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đề cao vai trò của giáo dục, bồi dƣỡng quan điểm, lý tƣởng, phẩm chất đạo đức và lối sống cao đẹp cho mỗi con ngƣời Việt Nam. Đặc biệt, Ngƣời luôn xem trọng việc giáo dục cán bộ đảng viên, đặt nhiệm vụ xây dựng con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện lên thành nhiệm vụ hàng đầu, tiên quyết trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trƣớc hết cần có những con ngƣời xã hội chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc giáo dục, bồi dƣỡng, xây dựng nhân sinh quan cao đẹp cho con ngƣời Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cùng với việc chăm lo phát triển cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần, nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho nhân dân, Đảng ta luôn quan tâm, chú trọng đặc biệt đến giáo dục, xây dựng nhân sinh quan cho mỗi ngƣời Việt Nam, nhằm bồi dƣỡng, đào tạo những ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, là nguồn nhân lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển bền vững đất nƣớc. Chính vì thế, chúng ta đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn về nhiều mặt, không chỉ trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, mà còn cả trong phát triển tƣ tƣởng, văn hóa, giáo dục; xây dựng đƣợc lớp ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện: 2 “Xây dựng con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc.
Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực phát triển cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. Tuy nhiên, trƣớc sự tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trƣờng cùng với sự ảnh hƣởng nhiều mặt của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự giao lƣu, tiếp biến giữa các nền văn hóa trên thế giới, đã ảnh hƣởng, tác động khá sâu rộng đến con ngƣời và xã hội Việt Nam. Bên cạnh những con ngƣời Việt Nam chân chính, có lý tƣởng và mục đích sống cao đẹp, có tình yêu quê hƣơng đất nƣớc, có tinh thần dân tộc cao cả, có trách nhiệm đối với nhân dân và đất nƣớc… thì vẫn còn những ngƣời có quan niệm sống không đúng đắn, lý tƣởng sống lệch lạc, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Điều đó đƣợc biểu hiện ở: “Tình trạng suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chƣa bị đẩy lùi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr.
Tất cả những điều đó đang làm xói mòn truyền thống đạo đức tốt đẹp, lối sống lành mạnh của dân tộc ta. Đứng trƣớc yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn xây dựng phát triển và bảo vệ đất nƣớc, nhất là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lƣờng hiện nay, thì nhiệm vụ giáo dục, xây dựng một nhân sinh quan đúng đắn, nhằm đào tạo lớp ngƣời Việt Nam mới phát triển toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên”; xây dựng thành công một nƣớc Việt Nam “dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I, tr. 9), là một nhiệm vụ đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta hết sức quan tâm. Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trên, một mặt, chúng ta phải tiếp thu có chọn lọc những tƣ tƣởng tốt đẹp, cao nhất của thời đại con ngƣời; mặt khác, chúng ta phải biết tiếp thu, kế thừa những giá trị văn hóa từ nguồn nội sinh của đất nƣớc, trong đó có nhân sinh quan, biến nó thành sức mạnh to lớn của cả dân tộc Việt Nam, hoàn thành mục tiêu phát triển con ngƣời Việt Nam có năng lực trình độ, đạo đức.
và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng, giàu có, tốt đẹp. 3 Trong lịch sử dân tộc Việt Nam thời Trần là một trong những thời kỳ phát triển rực rỡ. Đáp ứng yêu cầu và đặc điểm của lịch sử Việt Nam thời kỳ đó đặt ra, thời Trần đã xây dựng nên một nhà nƣớc Đại Việt độc lập, thống nhất, vững mạnh, cả về chính trị, kinh tế, quân sự; phát triển một nền văn hóa Đại Việt độc lập, tự chủ, tách dần văn hóa ngoại lai, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của bên ngoài; đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, nhằm tập trung mọi sức lực, trí tuệ của quân dân Đại Việt, ba lần đánh thắng quân Nguyên - Mông, một thế lực hùng mạnh nhất lúc bấy giờ. Từ những đặc điểm và yêu cầu của thực tiễn lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XIII - XIV, trên lĩnh vực đời sống tinh thần xã hội đã hình thành phát triển những nhà tƣ tƣởng, những thiền phái triết học khá phong phú, nổi bật là tƣ tƣởng triết học Phật giáo với nhân sinh quan hết sức đặc sắc, đã trở thành nền tảng tinh thần đạo đức xã hội, thu phục nhân tâm, cố kết lòng dân, “trùng hƣng sự nghiệp” của dân tộc.
Nhân sinh quan trong tƣ tƣởng triết học Phật giáo thời Trần là sự kế thừa, phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những quan điểm nhân sinh của Nho giáo, Lão giáo, lấy những giá trị cốt lõi trong triết lý nhân sinh của Phật giáo làm nòng cốt; nó không chỉ đề cao lẽ sống và các giá trị tốt đẹp con ngƣời, qua các chuẩn mực đạo đức con ngƣời, quan tâm đến đời sống con ngƣời, mà còn gắn chặt với yêu cầu phục vụ nhân dân và dân tộc thời kỳ này. Cho nên nó mang ý nghĩa lịch sử - xã hội sâu xa và rộng lớn hơn; nó gắn với vận mệnh và sự tồn vong của dân tộc, hƣng suy của quốc gia và là sứ mệnh cao cả của mỗi ngƣời dân Đại Việt thời kỳ đó. Do đó, những giá trị quý báu của nhân sinh quan trong tƣ tƣởng triết học Phật giáo thời Trần vẫn còn có giá trị lịch sử bổ ích đối với chúng ta trong việc xây dựng hoàn thiện nhân sinh quan, góp phần vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo nên những con ngƣời mới Việt Nam hiện nay. Có thể nói, xây dựng nhân sinh quan cao đẹp cho mỗi ngƣời Việt Nam, trên cơ sở kế thừa, phát huy di sản quá khứ là yêu cầu cần thiết và là quy luật phát triển tất yếu, nhằm biến sức mạnh truyền thống của dân tộc thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ của con ngƣời và đất nƣớc Việt Nam hiện nay.
Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài: “Nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần, đặc điểm và giá trị lịch sử”, làm luận án tiến sĩ của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Thời Trần là một trong những thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam về tất cả các mặt nhƣ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, quân sự… trên cơ sở đó, đã hình thành nên các trào lƣu và những nhà tƣ tƣởng với các quan điểm khá phong phú, trong đó có vấn đề nhân sinh quan trong tƣ tƣởng triết học Phật giáo. Vì thế, từ trƣớc đến nay đã quan tâm thu hút các nhà khoa học, nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau. Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về nhân sinh quan trong tƣ tƣởng triết học Phật giáo thời Trần qua các chủ đề chính sau: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu có liên quan đến điều kiện, tiền đề hình thành nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần.
Những công trình nghiên cứu này cho chúng ta hiểu rõ hơn về tƣ tƣởng thời Trần đã đƣợc ra đời trong những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… nhƣ thế nào. Tiêu biểu về chủ đề này, trƣớc hết là tác phẩm Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998. Tác phẩm là một trong những bộ sách có giá trị, viết về lịch sử của đất nƣớc ta trong những giai đoạn đầu của thời kỳ phong kiến Việt Nam.
Một bức tranh về lịch sử đƣợc biên soạn công phu của các nhà sử học có tên tuổi nhƣ Lê Văn Hƣu thời Trần cho đến Ngô Sĩ Liên, Lê Hy thời Lê. trong đó đề cập kỷ thời Trần gồm có quyển V từ 1226 đến 1399, quyển VI từ 1294 - 1329, quyển VII từ 1330 - 1377, quyển VIII từ 1378 - 1399, quyển IX nói về kỷ hậu Trần 1407 – 1413. Tác phẩm cung cấp cho chúng ta một cách khá đầy đủ về mặt sử học, là một nguồn tài liệu gốc, đáng tin cậy, có giá trị cao. Tiếp theo, là tác phẩm Đại cương lịch sử Việt Nam, toàn tập, Nxb.
Giáo dục, 1999, của Trƣơng Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm và Lê Mậu Hãn chủ biên. Đây đƣợc xem là bộ sách viết về lịch sử dân tộc Việt Nam, đƣợc biên soạn công phu, khái quát một cách có hệ thống ba giai đoạn: Lịch sử Việt Nam từ nguyên thủy đến năm 1858; lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 và lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 2006.