Tổng quan luận án

Công trình Nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần, đặc điểm và giá trị lịch sử của tác giả Nguyễn Văn Hạnh là luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (mã số 9229001), được bảo vệ năm 2023 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Doãn Chính và TS. Nguyễn Anh Quốc.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, xã hội Việt Nam đang đối mặt với những tác động tiêu cực như sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm và sự xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện nhân sinh quan cho con người Việt Nam vừa có năng lực chuyên môn vừa có phẩm chất đạo đức là nhiệm vụ cấp bách. Để thực hiện nhiệm vụ này, việc kế thừa các giá trị văn hóa và tư tưởng từ nguồn lực nội sinh của dân tộc, đặc biệt là nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần – giai đoạn phát triển rực rỡ bậc nhất trong lịch sử phong kiến Đại Việt – mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về thời Lý - Trần ở các góc độ lịch sử, văn học hay Phật học tổng quát, song việc nghiên cứu một cách thực sự chuyên biệt, có hệ thống và toàn diện về nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần dưới lăng kính triết học vẫn chưa được giải quyết trọn vẹn.

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ cơ sở hình thành, nội dung và đặc điểm của nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần; từ đó đánh giá các giá trị lịch sử, chỉ ra hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm đối với sự nghiệp giáo dục, bồi dưỡng nhân sinh quan cho con người Việt Nam hiện nay. Để đạt được mục tiêu đó, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày, phân tích làm rõ cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình thành nên nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần.
  2. Trình bày, phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần qua các vấn đề: quan niệm về lý tưởng và giá trị cuộc sống; quan niệm về đạo lý làm người và đạo đức con người; quan niệm về sự sống, cái chết và thái độ sống ung dung, tự tại.
  3. Phân tích làm rõ những đặc điểm chủ yếu, giá trị lịch sử và hạn chế; từ đó rút ra bài học lịch sử đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nhân sinh quan cho con người Việt Nam mới.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về mặt không gian và thời gian trong phạm vi lãnh thổ Đại Việt thời nhà Trần, từ năm 1225 đến năm 1400, căn cứ trên các tài liệu, thư tịch và văn bản học liên quan đến Phật giáo và tư tưởng thời kỳ này.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các công trình đi trước thành ba nhóm chủ đề chính:

  • Nhóm thứ nhất: Các công trình liên quan đến điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng. Nhóm này cung cấp bức tranh lịch sử, kinh tế, chính trị và xã hội Đại Việt thế kỷ XIII - XIV. Tiêu biểu gồm: bộ sử liệu gốc Đại Việt sử ký toàn thư (NXB Khoa học xã hội, 1998); Đại cương lịch sử Việt Nam (Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên, NXB Giáo dục, 1999); Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú, NXB Giáo dục, 2006); công trình Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần (NXB Khoa học xã hội, 1981); Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII (Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, NXB Quân đội nhân dân, 2003); Lịch sử cổ đại Việt Nam (Đào Duy Anh, NXB Văn hóa - Thông tin, 2010); cùng các bài báo khoa học của Nguyễn Thị Phương Chi (2012), Bùi Huy Du (2011).
  • Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về nội dung, đặc điểm tư tưởng triết học và Phật giáo thời Trần. Tiêu biểu là bộ tư liệu Thơ văn Lý - Trần (Viện Văn học biên soạn, 3 tập, NXB Khoa học xã hội, xuất bản các năm 1977, 1978, 1988); Tư tưởng Việt Nam thời kỳ Lý - Trần (Trương Văn Chung, Doãn Chính đồng chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, 2008); Tư tưởng Việt Nam thời Trần (Trần Thuận, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2014); Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần (Trương Văn Chung, NXB Chính trị quốc gia, 1998); Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV (Nguyễn Hùng Hậu, NXB Khoa học xã hội, 2002); Tam tổ thực lục (Thích Phước Sơn dịch và chú giải, 1995); Thiền học Trần Thái Tông (Nguyễn Đăng Thục, NXB Văn hóa - Thông tin, 1996); các bài tạp chí của Doãn Chính (2018), Bùi Huy Du (2009), Doãn Chính - Nguyễn Ngọc Phượng (2009), Doãn Chính - Phạm Thị Loan (2006).
  • Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu, đánh giá giá trị lịch sử và Phật giáo đời Trần. Gồm có Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang, 3 tập, NXB Văn học, 2000); Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam - Từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX (Doãn Chính chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, 2013); Lịch sử đạo Phật Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh, NXB Tôn giáo, 2009); Toàn tập Trần Nhân Tông (Lê Mạnh Thát, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2006); tác phẩm Thiền học đời Trần (Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1992, gồm 28 bài viết của các tác giả Thích Phước Sơn, Minh Chi, Ngô Gia Lệ...); văn bản Khóa hư lục của Trần Thái Tông (NXB Khoa học xã hội, 1974); Hai quãng đời của sơ tổ Trúc Lâm (Thích Thanh Từ, NXB Tôn giáo, 2002); luận văn Thạc sĩ của Đặng Ánh Tuyết, Nguyễn Lan Anh; bài viết của Nguyễn Tài Đông (2008), Nguyễn Công Lý (2000).
Nhóm hướng nghiên cứu Tác phẩm / Tác giả tiêu biểu Đóng góp tư liệu chính Khoảng trống còn tồn tại
Tiền đề lịch sử - xã hội Đại Việt sử ký toàn thư; Đại cương lịch sử Việt Nam; Lịch triều hiến chương loại chí; Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần. Cung cấp dữ kiện sử liệu gốc, cấu trúc kinh tế - xã hội, thể chế chính trị và ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông. Chủ yếu tiếp cận dưới góc độ sử học thuần túy, chưa đào sâu cơ chế quy định của tồn tại xã hội đến ý thức nhân sinh quan.
Nội dung và đặc điểm tư tưởng Thơ văn Lý - Trần; Tư tưởng Việt Nam thời kỳ Lý - Trần; Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Khảo sát văn bản tác phẩm, hành trạng tác giả, các phạm trù nhận thức luận, bản thể luận và tư tưởng thiền học. Nghiên cứu mang tính bao quát văn học - tư tưởng chung hoặc tập trung vào dòng thiền riêng lẻ, chưa chuyên biệt hóa nhân sinh quan.
Giá trị lịch sử và Phật giáo Việt Nam Phật giáo sử luận; Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam; Toàn tập Trần Nhân Tông; Thiền học đời Trần. Đánh giá vai trò văn hóa, sự phát triển đỉnh cao của thiền phái Trúc Lâm và nguyên nhân hưng thịnh, suy vong của Phật giáo. Tiếp cận dưới góc độ tôn giáo học hoặc chuyên khảo một nhân vật, chưa làm rõ hệ thống giá trị và bài học lịch sử của nhân sinh quan.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là xâu chuỗi các nguồn tư liệu văn bản, sử liệu thành một chỉnh thể lý luận; làm rõ cấu trúc nội dung, đặc điểm cốt lõi và đánh giá biện chứng giá trị cũng như hạn chế lịch sử của nhân sinh quan Phật giáo thời Trần dưới góc nhìn của lịch sử triết học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận án quán triệt nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội; quan điểm lịch sử - cụ thể; quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển trong việc đánh giá các hiện tượng tư tưởng.

Để triển khai các nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp logic và lịch sử: Dùng để mô tả tiến trình lịch sử Đại Việt thế kỷ XIII - XIV, nắm vững quy luật phát triển nội tại của nhân sinh quan Phật giáo thời Trần gắn liền với các điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân chia các yếu tố cấu thành nhân sinh quan (lý tưởng sống, đạo lý làm người, quan niệm sinh tử) để phân tích chi tiết, sau đó liên kết lại nhằm nhận thức toàn diện bản chất nhân sinh quan Phật giáo thời Trần.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Khái quát hóa từ các sự kiện lịch sử, các tác phẩm thiền học và hành trạng thực tế của các nhân vật thời Trần để xây dựng nên các luận điểm triết học; đồng thời diễn dịch các nguyên lý chung vào giải thích các khía cạnh tư tưởng cụ thể.
  • Phương pháp nghiên cứu văn bản học: Khảo cứu, phân tích trực tiếp các văn bản chữ Hán, chữ Nôm nguyên tác và các bản dịch tin cậy (Khóa hư lục, Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú sơ sơn quy trình, văn bia, thi kệ) nhằm đảm bảo tính xác thực và khoa học của các luận cứ.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu: Đặt nhân sinh quan Phật giáo thời Trần trong mối quan hệ so sánh với tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo các thời kỳ trước và văn hóa dân gian bản địa để làm nổi bật đặc điểm riêng biệt.
  • Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Xem xét nhân sinh quan như một hệ thống hoàn chỉnh gồm nhiều tiểu hệ thống quan niệm có mối quan hệ biện chứng với nhau.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các bộ chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, An Nam chí lược), các tác phẩm thiền học và thi văn thời Lý - Trần (Thơ văn Lý - Trần, Tam tổ thực lục, Khóa hư lục), cùng hệ thống văn kiện, công trình nghiên cứu chuyên khảo hiện đại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình thành nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần

Chương 1 làm rõ bối cảnh lịch sử - xã hội và nguồn gốc lý luận sản sinh ra nhân sinh quan Phật giáo thời Trần thông qua hai nội dung lớn:

Khái quát đặc điểm và yêu cầu của lịch sử - xã hội Đại Việt thế kỷ XIII - XIV: Nhà Lý sau hơn hai thế kỷ trị vì (1010 - 1225) đã rơi vào suy thoái nghiêm trọng do bộ máy cai trị quan liêu lũng đoạn, kinh tế đình đốn, cát cứ nổi lên và an ninh bị đe dọa. Năm 1225, thông qua sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh (Trần Thái Tông), triều Trần chính thức thành lập. Nhà Trần phải giải quyết ba yêu cầu lịch sử cấp bách:

  • Nhiệm vụ xây dựng nhà nước Đại Việt độc lập, thống nhất, tự chủ, hùng mạnh: Nhà Trần thiết lập thể chế quân chủ trung ương tập quyền chặt chẽ. Năm 1242, đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ, thêm 6 châu và 5 phủ; chia cấp hành chính gồm hương, sách, động, trại, xã; đặt các chức quan Đại tư xã (từ ngũ phẩm trở lên) và Tiểu tư xã (ngũ phẩm trở xuống) cai quản. Đặc điểm chính trị nổi bật là cơ chế "tông tử duy thành", trao quyền lực quan trọng cho vương hầu, tôn thất họ Trần và thực thi "chế độ Thái thượng hoàng". Cơ cấu xã hội hình thành 3 đẳng cấp rõ rệt: Đẳng cấp vua, quý tộc quan liêu; Đẳng cấp bình dân (nông dân làng xã, thợ thủ công, thương nhân); Đẳng cấp nô tỳ (gia nô phục vụ trong phủ đệ, người hầu khai hoang điền trang). Về kinh tế, thiết lập hệ thống sở hữu ruộng đất đa dạng gồm: ruộng đất nhà nước (sơn lăng, tịch điền, quốc khố, quan điền/ruộng công làng xã) và ruộng đất tư nhân (thái ấp của quý tộc, điền trang do vương hầu chiêu tập dân phiêu tán khai khẩn, ruộng đất của địa chủ và tiểu nông, cùng ruộng đất nhà chùa như năm 1310 Trần Anh Tông ban cấp 80 mẫu ruộng ở An Đinh cho chùa nuôi tăng). Công tác đê điều được chú trọng: năm 1248 lập cơ quan phụ trách đê điều với chức chánh, phó sứ tại các lộ, đắp đê Quai Vạc, đê Đỉnh Nhĩ, đào sông Tô Lịch, sông Bà Mã.
  • Yêu cầu xây dựng nền văn hóa Đại Việt độc lập, tự chủ: Đẩy mạnh phát triển giáo dục, khoa cử, khuyến khích sáng tác bằng chữ Nôm. Sử học đạt thành tựu với việc Lê Văn Hưu hoàn thành bộ Đại Việt sử ký 30 quyển; các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa mang phong cách mộc mạc, hiện thực, thể hiện bản sắc độc lập.
  • Yêu cầu đoàn kết toàn dân chống giặc Nguyên - Mông: Quân dân Đại Việt ba lần đánh thắng quân Nguyên - Mông: lần 1 năm 1258 (trận Bình Lệ Nguyên và phản công Đông Bộ Đầu ngày 29/01/1258); lần 2 năm 1285 (Hội nghị Bình Than 1282, Hội nghị Diên Hồng tháng 1/1285, khẩu hiệu "Sát Thát", các chiến thắng Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương); lần 3 năm 1287 - 1288 (Trần Khánh Dư đánh tan đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ ngày 02/02/1288 tại Vân Đồn, diệt 220 tên địch, thu hơn 14.300 thạch lương; chiến thắng Bạch Đằng ngày 01/04/1288).

Tiền đề lý luận: Nhân sinh quan Phật giáo thời Trần hình thành dựa trên hai tiền đề cốt lõi:

  1. Giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam: Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết cố kết cộng đồng dựa trên ý niệm "đồng bào", lòng nhân ái, khoan dung độ lượng (như Trần Thái Tông tha tội chết cho Hoàng Cự Đà, Trần Nhân Tông đắp áo ngự cho tướng giặc Toa Đô tử trận).
  2. Tư tưởng Tam giáo (Tam giáo đồng nguyên): Phật giáo đóng vai trò chủ lưu, dung hợp các chuẩn mực luân lý của Nho giáo (tam cương, ngũ thường, trung hiếu) và thái độ sống tự nhiên, phóng khoáng của Đạo giáo.

Chương 2: Nội dung nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần

Chương 2 trình bày toàn diện ba phương diện cấu thành nhân sinh quan Phật giáo thời Trần:

Khái quát về nhân sinh quan và quan niệm về lý tưởng, giá trị cuộc sống: Nhân sinh quan được định nghĩa là hệ thống quan điểm của con người về cuộc đời, mục đích, ý nghĩa và lẽ sống. Trong bối cảnh thời Trần, lý tưởng sống không phải là sự xuất thế tiêu cực, ẩn dật nơi rừng núi mà là sự dấn thân phụng sự đất nước, gắn đạo với đời. Tác giả chỉ ra quan niệm về kẻ "trượng phu" ở Trần Nhân Tông qua thi phẩm Họa thơ Kiều Nguyên Lãng: "Sống mà không giúp ích gì cho đời là điều đáng thẹn của kẻ trượng phu". Tinh thần "Cư trần lạc đạo" (ở đời vui đạo) khẳng định giá trị sống đích thực nằm ngay trong trách nhiệm xã hội và cuộc sống trần thế.

Quan niệm về đạo lý làm người và quan niệm về đạo đức con người: Đạo lý làm người thời Trần là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trung với nước và hiếu với cha mẹ ("ngay thờ chúa, thảo thờ cha" trong Cư trần lạc đạo phú). Đạo đức con người được xây dựng trên nền tảng luật nhân quả, thuyết nghiệp báo và tinh thần từ bi, hỷ xả của Phật giáo, kết hợp ngũ giới, thập thiện với các phạm trù nhân nghĩa của Nho giáo. Đạo đức thể hiện qua hành vi thực tế: thương yêu nhân dân, tôn trọng con người, sống trung thực, vị tha và khoan dung.

Quan niệm về sự sống, cái chết và thái độ sống ung dung, tự tại: Dựa trên nhận thức về tính "vô thường", "duyên khởi" và bản chất "tính Không" của vạn vật, Phật giáo thời Trần nhìn nhận sinh và tử là hai mặt của một quá trình vận động tự nhiên khách quan. Con người không bi lụy trước cái chết cũng không tham đắm sự sống. Nhờ giác ngộ bản tính chân tâm, các nhà tư tưởng thiền học thời Trần như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông xây dựng thái độ sống ung dung, tự tại, tự chủ trước mọi biến cố hiểm nguy của đời sống và sẵn sàng hy sinh vì sự tồn vong của quốc gia dân tộc.

Chương 3: Đặc điểm, giá trị lịch sử và hạn chế của nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần

Chương 3 tổng kết các đặc trưng bản chất, định vị giá trị và chỉ ra giới hạn lịch sử của đối tượng nghiên cứu:

Đặc điểm của nhân sinh quan Phật giáo thời Trần:

  1. Tính kế thừa, dung hợp: Kế thừa sâu sắc truyền thống yêu nước, nhân ái bản địa và thực hiện sự dung hợp Tam giáo (Phật - Nho - Đạo), trong đó Phật giáo làm nòng cốt tư tưởng.
  2. Tinh thần nhập thế tích cực: Thể hiện phương châm "vừa ly thế vừa nhập thế", người tu hành và giới Phật tử không xa rời thực tiễn mà trực tiếp tham gia đánh giặc, quản lý quốc gia, lao động sản xuất và xây dựng đời sống xã hội.
  3. Tính nhân văn sâu sắc: Đề cao phẩm giá con người, tin tưởng vào khả năng tự giác ngộ của mỗi cá nhân ("Phật ở trong tâm"), thực hành tình thương yêu bình đẳng và khoan dung nhân đạo.

Giá trị lịch sử và hạn chế:

  • Giá trị lịch sử:
    • Trở thành nền tảng tinh thần đạo đức xã hội, cố kết khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần trực tiếp vào thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông.
    • Xây dựng một mô hình nhân cách mẫu mực thời đại Lý - Trần: anh hùng cứu nước gắn liền với chiều sâu giác ngộ tâm linh.
    • Để lại bài học lịch sử quý báu về phát huy nguồn lực nội sinh, giáo dục lòng yêu nước và đạo đức làm người cho công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
  • Hạn chế:
    • Chịu sự quy định của thế giới quan tôn giáo duy tâm, giải thích nguồn gốc bất bình đẳng và số phận con người thông qua luật nhân quả, nghiệp báo luân hồi siêu hình.
    • Mang tính chất giai cấp phong kiến, bảo vệ trật tự trị vì của tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần; chưa thể giải quyết triệt để vấn đề giải phóng người lao động nghèo và tầng lớp nô tỳ trong xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả nghiên cứu và đóng góp mới chủ yếu sau:

  • Về mặt lý luận: Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ một cách toàn diện, có cấu trúc logic các phạm trù nội dung của nhân sinh quan Phật giáo thời Trần (lý tưởng sống, đạo lý làm người, đạo đức nhân sinh, quan niệm sinh tử và thái độ sống tự tại). Công trình chỉ rõ ba đặc điểm cơ bản: tính kế thừa - dung hợp, tinh thần nhập thế tích cực và tính nhân văn sâu sắc; qua đó khẳng định nhân sinh quan Phật giáo thời Trần là đỉnh cao của sự kết hợp giữa triết lý Phật giáo với tinh thần dân tộc Đại Việt.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án đánh giá khách quan giá trị lịch sử cũng như hạn chế giai cấp của nhân sinh quan thời Trần; từ đó rút ra các bài học lịch sử có giá trị tham khảo thiết thực đối với công tác giáo dục, bồi dưỡng nhân sinh quan cách mạng, đạo đức và lối sống cho con người Việt Nam mới trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Luận án tập trung khảo sát chủ yếu qua các văn bản thư tịch cổ thành văn của tầng lớp vua quan, thiền sư quý tộc và thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; do tính chất phân tán của nguồn sử liệu cổ, việc phản ánh đời sống tâm lý, nhân sinh quan thường nhật của tầng lớp bình dân và nô tỳ ở các làng xã vùng sâu chưa thực sự phong phú.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu nhân sinh quan Phật giáo thời Trần với nhân sinh quan Phật giáo thời Lý và thời Lê sơ để nhận diện rõ sự biến chuyển tư tưởng qua các triều đại.
    • Nghiên cứu sự kế thừa, biến đổi và tiếp biến của các giá trị nhân sinh quan thiền phái Trúc Lâm trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt Nam đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Triết học (đặc biệt là Lịch sử triết học Việt Nam và Lịch sử triết học phương Đông), Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học và Tôn giáo học.
  • Giảng viên: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các học phần Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Tư tưởng chính trị - xã hội thời phong kiến, Triết học Phật giáo Việt Nam.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa và hoạch định chính sách: Tham khảo cơ sở lý luận và bài học lịch sử về việc huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp các giá trị văn hóa truyền thống để xây dựng chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 (phân tích hệ thống quan niệm lý tưởng, đạo đức, sinh tử qua các văn bản thi kệ gốc) và Chương 3 (phần phân tích tinh thần nhập thế và các bài học lịch sử).

Câu hỏi thường gặp

1. Nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần được hình thành dựa trên những tiền đề lý luận cơ bản nào? Nhân sinh quan Phật giáo thời Trần được hình thành từ hai tiền đề lý luận chính: thứ nhất là giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam (lòng yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung); thứ hai là tư tưởng Tam giáo (Tam giáo đồng nguyên), trong đó triết lý Phật giáo giữ vai trò nòng cốt, dung hợp linh hoạt các chuẩn mực luân lý Nho giáo và đạo lý tự nhiên của Đạo giáo.

2. Khái niệm "Cư trần lạc đạo" phản ánh nội dung nhân sinh quan nào của Phật giáo thời Trần? "Cư trần lạc đạo" (ở đời vui đạo) do Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông khởi xướng phản ánh lý tưởng sống dấn thân, nhập thế tích cực. Tư tưởng này xác định con người không cần trốn tránh cuộc đời trần tục để tìm kiếm cõi Niết bàn xa xôi, mà thực hiện việc tu dưỡng tâm tính, phụng sự Tổ quốc và chăm lo cho đời sống nhân dân ngay trong các hoạt động thực tế thường nhật.

3. Luận án xác định xã hội thời Trần gồm những đẳng cấp nào và cơ cấu ruộng đất ra sao? Luận án xác định cấu trúc xã hội thời Trần gồm 3 đẳng cấp: Đẳng cấp vua, quý tộc quan liêu; Đẳng cấp bình dân; Đẳng cấp nô tỳ. Chế độ ruộng đất gồm: sở hữu nhà nước (sơn lăng, tịch điền, quốc khố, quan điền/ruộng công làng xã) và sở hữu tư nhân (thái ấp của quý tộc, điền trang khai hoang, ruộng đất của địa chủ và tiểu nông, cùng ruộng đất nhà chùa).

4. Tinh thần nhập thế của nhân sinh quan Phật giáo thời Trần thể hiện qua những sự kiện lịch sử tiêu biểu nào? Tinh thần nhập thế thể hiện qua việc các vị vua, quý tộc và thiền sư trực tiếp tham gia lãnh đạo đất nước và chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm. Tiêu biểu là việc tham gia và tổ chức các Hội nghị Bình Than (1282), Hội nghị Diên Hồng (1285), khẩu hiệu "Sát Thát", và trực tiếp chỉ huy các chiến dịch quân sự trong ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông (năm 1258, 1285 và 1287 - 1288).

5. Luận án chỉ ra những hạn chế lịch sử nào của nhân sinh quan Phật giáo thời Trần? Hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo thời Trần nằm ở thế giới quan tôn giáo duy tâm, giải thích bất công xã hội và số phận con người thông qua thuyết nhân quả, nghiệp báo luân hồi; đồng thời mang tính chất giai cấp phong kiến, bảo vệ quyền lợi chính trị của giai tộc nhà Trần và chưa giải quyết được vấn đề bình đẳng cho tầng lớp nô dịch, bình dân nghèo khổ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hạnh là công trình nghiên cứu hệ thống, nghiêm túc và có giá trị học thuật cao về nhân sinh quan trong tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần. Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với văn bản học, tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở hiện thực, cấu trúc nội dung, đặc điểm dung hợp - nhập thế và giá trị lịch sử của tư tưởng nhân sinh thời Trần. Công trình không chỉ góp phần làm phong phú kho tàng nghiên cứu lịch sử triết học Việt Nam mà còn cung cấp những bài học kinh nghiệm sâu sắc cho sự nghiệp xây dựng, giáo dục nhân sinh quan cho con người Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay.