Sự Biến Đổi Nghi Lễ Lên Đồng Trong Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Của Người Việt Ở Đồng Bằng Bắc Bộ Hiện Nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh sự biến đổi nghi lễ lên đồng trong tín ngưỡng thờ mẫu của người việt ở đồng bằng bắc bộ hiện, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Tôn giáo học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

123
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chon đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

0.3. Những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu (Đạo Mẫu)

0.4. Những công trình nghiên cứu về Lên Đồng

0.5. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

0.6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.7. Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

0.9. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

1.1. Cơ sở hình thành, phát triển và giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng Bằng Bắc Bộ

1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu

1.1.2. Cơ sở hình thành, phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ

1.1.3. Giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ

1.2. Lên Đồng - Nghi lễ đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ

1.2.1. Khái niệm nghi lễ và nghi lễ Lên Đồng

1.2.2. Vai trò của nghi lễ Lên Đồng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIẾN ĐỔI CHỦ YẾU CỦA NGHI LỄ LÊN ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY - VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ

2.1. Một số biến đổi chủ yếu của nghi lễ Lên Đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

2.2. Khuynh hướng gia tăng sự tích hợp văn hóa

2.3. Biến đổi về quy mô và đối tượng thực hành nghi lễ Lên Đồng

2.4. Biến đổi về trang phục trong thực hành nghi lễ Lên Đồng

2.5. Biến đổi về đồ lễ trong nghi lễ Lên Đồng

2.6. Biến đổi trong thực hành nghi lễ Lên Đồng

2.7. Nguyên nhân của sự biến đổi nghi lễ Lên Đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

2.8. Một số khuyến nghị nhằm phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực trong nghi lễ Lên Đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

2.9. Tiểu kết chương 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC ẢNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Biến Đổi Nghi Lễ Lên Đồng Trong Tín Ngưỡng Thờ Mẫu

Nghi lễ Lên Đồng là một phần không thể thiếu trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ. Nghi lễ này không chỉ thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần linh mà còn phản ánh những giá trị văn hóa, tâm linh của cộng đồng. Trong bối cảnh hiện đại, nghi lễ Lên Đồng đang trải qua nhiều biến đổi, từ hình thức đến nội dung, nhằm thích ứng với sự thay đổi của xã hội và nhu cầu tâm linh của con người.

1.1. Khái Niệm Nghi Lễ Lên Đồng Trong Tín Ngưỡng Thờ Mẫu

Nghi lễ Lên Đồng, hay còn gọi là Hầu bóng, là một hình thức biểu diễn tâm linh đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu. Nghi lễ này không chỉ đơn thuần là một hoạt động tôn giáo mà còn là một nghệ thuật biểu diễn, kết hợp giữa âm nhạc, múa và nhập thần. Qua đó, người tham gia có thể giao tiếp với các vị thần linh, cầu xin sự bảo trợ và may mắn.

1.2. Vai Trò Của Nghi Lễ Lên Đồng Trong Đời Sống Tâm Linh

Nghi lễ Lên Đồng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nó không chỉ là nơi thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần mà còn là không gian giao lưu văn hóa, nơi mà các giá trị truyền thống được truyền tải và gìn giữ qua các thế hệ.

II. Những Biến Đổi Chính Của Nghi Lễ Lên Đồng Hiện Nay

Sự biến đổi của nghi lễ Lên Đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Những biến đổi này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong nhu cầu tâm linh mà còn là sự giao thoa văn hóa trong bối cảnh hiện đại.

2.1. Biến Đổi Về Quy Mô Và Đối Tượng Thực Hành

Quy mô và đối tượng tham gia nghi lễ Lên Đồng đã có sự thay đổi đáng kể. Trước đây, nghi lễ này chủ yếu diễn ra trong các gia đình hoặc cộng đồng nhỏ, nhưng hiện nay, nó đã trở thành một sự kiện lớn, thu hút đông đảo người tham gia từ nhiều nơi khác nhau.

2.2. Biến Đổi Về Trang Phục Và Đồ Lễ

Trang phục và đồ lễ trong nghi lễ Lên Đồng cũng đã có sự thay đổi. Các trang phục truyền thống được thay thế bằng những bộ trang phục hiện đại hơn, phù hợp với xu hướng thời trang. Đồ lễ cũng được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu và khả năng của người tham gia.

III. Nguyên Nhân Của Sự Biến Đổi Nghi Lễ Lên Đồng

Sự biến đổi của nghi lễ Lên Đồng không chỉ do yếu tố nội tại của tín ngưỡng mà còn chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài như kinh tế, xã hội và văn hóa. Những thay đổi trong lối sống, tư duy và nhu cầu tâm linh của con người đã tạo ra những tác động mạnh mẽ đến nghi lễ này.

3.1. Ảnh Hưởng Của Kinh Tế Thị Trường

Kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nghi lễ Lên Đồng. Sự phát triển kinh tế đã giúp nâng cao đời sống của người dân, từ đó tạo điều kiện cho việc thực hành nghi lễ này trở nên phổ biến hơn.

3.2. Sự Giao Thoa Văn Hóa

Sự giao thoa văn hóa giữa các vùng miền và các nền văn hóa khác nhau cũng đã góp phần làm phong phú thêm nghi lễ Lên Đồng. Những yếu tố văn hóa mới được tích hợp vào nghi lễ, tạo nên sự đa dạng và hấp dẫn hơn cho hoạt động này.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghi Lễ Lên Đồng Trong Đời Sống Hiện Đại

Nghi lễ Lên Đồng không chỉ là một hoạt động tôn giáo mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong đời sống hiện đại. Nó góp phần tạo ra không gian giao lưu văn hóa, thúc đẩy sự kết nối giữa các thế hệ và cộng đồng.

4.1. Góp Phần Bảo Tồn Văn Hóa Dân Gian

Nghi lễ Lên Đồng giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian, tạo ra một không gian để các thế hệ trẻ tìm hiểu và kết nối với truyền thống văn hóa của dân tộc.

4.2. Tạo Ra Không Gian Giao Lưu Văn Hóa

Nghi lễ này cũng tạo ra không gian giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng khác nhau, giúp tăng cường sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các nền văn hóa.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Nghi Lễ Lên Đồng

Tương lai của nghi lễ Lên Đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ sẽ tiếp tục phát triển và biến đổi. Những biến đổi này sẽ phản ánh sự thay đổi trong nhu cầu tâm linh và sự giao thoa văn hóa trong bối cảnh hiện đại.

5.1. Duy Trì Các Giá Trị Truyền Thống

Cần có những biện pháp để duy trì và phát huy các giá trị truyền thống của nghi lễ Lên Đồng, đảm bảo rằng nó không bị mai một trong dòng chảy của thời gian.

5.2. Thích Ứng Với Thay Đổi Của Xã Hội

Nghi lễ Lên Đồng cũng cần phải thích ứng với những thay đổi của xã hội, từ đó tạo ra những giá trị mới, phù hợp với nhu cầu và mong muốn của cộng đồng.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục ảnh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU CỦA NGƢỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 1. Cơ sở hình thành, phát triển và giá trị của tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt ở đồng Bằng Bắc Bộ 1. Khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu Trên những cơ sở kinh tế - xã hội - văn hóa, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt được hình thành từ hàng ngàn năm nay.

Nó đã ăn sâu vào tiềm thức của dân tộc và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam. Khởi nguồn từ tục thờ Nữ thần của cư dân Việt cổ đến bước phát triển cao hơn là thờ Mẫu thần và cuối cùng là thờ Tam Phủ - Tứ Phủ. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam thể hiện sự ngưỡng mộ chân thành của con người về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như trong xã hội, trong công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước. Khái niệm "Mẫu" có thể tiếp cận ở góc độ rộng, hẹp khác nhau.

Tuy nhiên có thể tiếp cận khái niệm Mẫu theo ba nghĩa: - Mẫu là một danh từ gốc Hán Việt được hiểu là mẹ, mụ, mạ, mế dùng để chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó, là tiếng xưng hô của người con đối với người mẹ đã sinh thành ra mình. - Mẫu cũng được hiểu theo nghĩa rộng hơn đó là sự tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào đó (có thật hoặc không có thật) như Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi thiên hạ. - Mẫu cũng được dùng để chỉ sự sinh sôi nảy nở, sinh hóa không ngừng của vạn vật như những danh xưng: Mẹ cây, Mẹ đất, Mẹ nước, Mẹ núi rừng, Mẹ lúa, Mẹ chim, Mẹ cá, Mẹ xứ sở. Mặc dù đồng nhất Mẹ - Mẫu với tự nhiên (bà Mây, bà Mưa, bà Sấm, bà Chớp), với bản thể vũ trụ (bà Kim, bà 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mộc, bà Thủy, bà Hỏa, bà Thổ), nhưng Mẫu ở đây không phải là người mang tính sáng thế mà chỉ mang tính đùm bọc che chở mà thôi.

Người Việt trên cơ sở những cảm nhận trực quan về sự sinh nở của người mẹ, trong lao động sản xuất và trong đời sống cộng đồng đã xuất hiện ý thức về sự sinh sôi nảy nở và phát triển của vạn vật xung quanh mình. Họ nhận thấy người mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc mang thai, sinh nở, nuôi dưỡng và che chở cho con cái của mình nói riêng và cho cả cộng đồng nói chung. Vì vậy người Việt đã sớm hình thành niềm tin thiêng liêng vào người mẹ mang nặng đẻ đau, che chở và đùm bọc đàn con. Niềm tin ấy được gửi gắm vào những người phụ nữ được tôn làm Nữ thần, Mẫu thần như mẹ Thượng Thiên sáng tạo ra vũ trụ, cai quản sự sống ở cõi trời; mẹ Thượng Ngàn bảo vệ chốn rừng xanh, đảm bảo cho sự sống của thực vật, động vật tầng đất, mẹ Thoải trông giữ các cửa sông, cửa biển.

Cùng với mẹ là hệ thống thần linh làm nhiệm vụ bảo vệ, giám sát các công việc ở từng miền. Sự kết hợp khéo léo, đa dạng các thần linh trong trí tưởng tượng của con người hoặc gắn kết những anh hùng dân tộc có công dựng nước, chống giặc ngoại xâm theo hệ thống từ trên xuống dưới đều phục vụ các mẹ ở từng miền đã tạo nên một tín ngưỡng dân gian đặc sắc của người Việt: Tín ngưỡng thờ Mẫu. Tuy chưa thống kê đầy đủ nhưng có thể thấy cách tôn xưng Mẫu, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu có liên quan mật thiết đến tín ngưỡng Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện ở việc các vị Thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu, ngay từ lớp Nữ thần, Mẫu thần, các vị thần đã mang các danh xưng Vương Mẫu, Quốc Mẫu như Ỷ Lan - Mẫu nghi thiên hạ, mẹ Thánh Gióng - Vương Mẫu, thần núi Tam Đảo - Quốc Mẫu… nhất là ở lớp thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ mang danh xưng Mẫu, Thánh Mẫu như Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Thiên - Đệ Nhất Thánh Mẫu, Mẫu Thượng ngàn Đệ Nhị Thánh Mẫu, Mẫu Thoải - Đệ Tam Thánh Mẫu, Mẫu Địa - Địa Tiên Thánh Mẫu… Xuất 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát từ cách gắn danh xưng Mẫu để tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào đó hay để chỉ sự sinh sôi, nảy nở, sinh hóa không ngừng của vạn vật, bản thể vũ trụ dần dần đã đưa đến sự “nâng cao”, “lên khuôn” thành các vị thần đứng đầu của Đạo Tam phủ - Tứ phủ. Các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam - Tứ phủ có quan hệ mật thiết với nhau nhưng chúng không phải là đồng nhất.

Mẫu là Nữ thần nhưng không phải tất cả Nữ thần đều là Mẫu. Tục thờ Mẫu thần là bước phát triển cao hơn từ tục thờ Nữ thần. Chỉ những Nữ thần nào là chủ thể của sự sinh sôi nảy nở, gắn với chức năng sinh đẻ, giáo dục con cái mới được tôn vinh là Mẫu. Rõ ràng người xưa đã khoác cho tự nhiên thuộc tính nữ, mang tính sinh sản, bao bọc, che chở.

Việc gắn thần linh với các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ, gắn với quyền năng sáng tạo, bảo trợ cho sự sống của con người đã trở thành một trong những quy luật cho quá trình chuyển từ các Nữ thần thành các vị Thánh Mẫu với mong ước mang tới sự sinh sôi, nảy nở cho con người và vạn vật trong vũ trụ. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam, nhân dân ta còn tôn thờ những bà mẹ có công sinh thành ra dân tộc, những người phụ nữ có tài dựng nước, giữ nước trong lịch sử và tôn xưng họ là Vương Mẫu, Quốc Mẫu. Nếu như thờ Mẫu thần được phát triển trên nền tảng thờ Nữ thần thì tín ngưỡng Tam phủ - Tứ phủ có thể được coi là sự phát triển hoàn thiện của tín ngưỡng Mẫu. Trong quan niệm dân gian của người Việt, “phủ” được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, đó là một lâu đài, cung điện, nơi ở của Chúa (có vị thế dưới Vua); thứ hai, đó là một vùng, miền, một không gian địa lý.

Người Việt cho rằng tự nhiên có thể được chia thành bốn vùng (Tứ phủ) - phủ Thượng Thiên (vùng trời), phủ Thượng Ngàn (vùng rừng), phủ Thủy (vùng nước) và phủ Địa (vùng đất). Đứng đầu và có quyền năng cai quản bốn vùng là bốn vị 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thủy, Mẫu Địa. Tuy nhiên, trong điện thờ chỉ có Tam tòa gồm ba vị Thánh Mẫu: Thượng Thiên, Thượng Ngàn, Thủy là thường xuất hiện; Mẫu Địa rất ít gặp trong điện Mẫu nên trong một số tài liệu Mẫu Địa không được đề cập đến khi nói về Tam phủ - Tứ phủ. Cũng có cách giải thích khác về Tam phủ, Tứ phủ.

Theo đó sẽ có ba phủ thuộc về ba không gian địa lý: phủ trời (đứng đầu là Mẫu Thượng Thiên), phủ rừng (đứng đầu là Mẫu Thượng Ngàn), phủ nước (đứng đầu là Mẫu Thủy) và một phủ thuộc về con người - Nhân Phủ (Mẫu Liễu Hạnh). Trong một số trường hợp, Mẫu Liễu Hạnh hóa thân vào Mẫu Thượng Thiên nên trong điện chỉ có Tam tòa nhưng thực chất lại có sự hiện diện của Tứ phủ. Vì vậy gọi là Tam phủ - Tứ phủ. Việc thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ cũng đã bước đầu hình thành một hệ thống tổ chức, thờ cúng trong các đền phủ, những nghi thức đã được chuẩn hóa như nghi lễ Lên Đồng và lễ hội “tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”.

Có thể thấy, sự ra đời của đạo Tam phủ - Tứ phủ ở đồng bằng Bắc Bộ vào giai đoạn thế kỷ XVI là điểm hoàn tất cho một quá trình phát triển lâu dài, mang tính tất yếu của tín ngưỡng thờ Mẫu được đánh dấu bằng sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Theo truyền thuyết, Mẫu Liễu là đệ nhị tiên chủ Quỳnh Nương trên thiên đình, trong một lần dâng rượu cho vua cha do lỡ làm vỡ chén ngọc nên bị đày xuống hạ giới, đầu thai vào gia đình Lê Thái Công ở thôn An Thái, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản dưới cái tên Giáng Tiên. Nàng kết hôn với Đào Lang con nuôi Trần Công sinh được một trai, một gái. Đột nhiên, nàng không bệnh mà mất lúc 21 tuổi.

Thực ra nàng hết hạn đi đày phải về trời. Nhớ chồng, thương con, nàng xin giáng trần và được phong làm Liễu Hạnh công chúa. Sau khi cha mẹ qua đời, chồng mất, con cái trưởng thành, nàng đi chu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com du khắp nơi. Vào làng Sóc - Nghệ An, nàng kết hôn với người chồng trước đã thác sinh và sinh được một con trai.

Nàng giúp chồng thi đỗ làm quan. Sau đó nàng lại phải về trời vì hết hạn. Do nặng lòng với cuộc sống dương gian, Ngọc Hoàng lại cho nàng giáng sinh lần thứ ba xuống vùng Phố Cát - Thanh Hoá. Lần này nàng mang theo hai người hầu là Quế và Thị.

Nàng hiển linh ở đâu, người lành được phúc, kẻ ác bị tai vạ… Câu chuyện về Mẫu Liễu Hạnh cho chúng ta cảm nhận hư hư thực thực, vô hình chung là sự hoài nghi về Mẫu, nói khác đi là hình tượng Mẫu Liễu mờ mờ ảo ảo, vừa đáng kính vừa đáng sợ. Đó cũng là sáng tạo thể hiện sự phát triển mang tính nội tại của tín ngưỡng thờ Mẫu, đồng thời phản ánh nhu cầu tâm linh của nhân dân và của xã hội lúc bấy giờ. Với “vị thần chủ” này, thờ Mẫu vốn là “một tín ngưỡng gần với thiên nhiên, đất trời, nay được “đời thường hóa”, gắn liền và đáp ứng những khát vọng của con người, nhất là người phụ nữ trong đời sống hằng ngày: tài lộc, chữa bệnh, ban phúc, giáng họa và chính từ đây, đạo Mẫu Tam phủ - Tứ phủ có được bộ mặt mới, vừa rất dân tộc, rất truyền thống lại vừa rất cập thời, làm cho nó nhanh chóng phát triển, lan tỏa khắp mọi miền đất nước”[67, tr. Đồng thời, thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ cũng đánh dấu sự xác lập của một loại phủ rất đặc trưng đó là Phủ Trần triều - một phủ thuần tuý mang tính chất Nhân thần, là nơi thờ Đức Thánh Trần cùng với thuộc hạ của ông.

Đức Thánh Trần chính là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người có công lớn trong việc đánh thắng sự xâm lược của giặc Nguyên Mông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ