phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương và 6 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI LƢỢC HỒI GIÁO Ở BẮC PHI VÀ TRUNG ĐÔNG 1. Vài đặc điểm của Hồi giáo Hồi giáo là một tôn giáo đặc biệt, đứng thứ hai trên thế giới và chi phối một khu vực quan trọng trong bức tranh chính trị chung của nhân loại. Là một tôn giáo độc thần, Hồi giáo có cách phát triển hoàn toàn khác so với các giáo phái khác.
Nói đến đặc điểm của đạo Hồi, Hồi giáo là một tôn giáo độc thần phát triển dựa trên nền tảng quan trọng nhất là Kinh Koran, một văn bản mà những người theo đức tin này cho rằng đã ghi nhận đúng từng lời răn dạy của Chúa Allah thông qua lời truyền đạt của Mohammed, người mà các tín đồ tin tưởng là Thiên sứ cuối cùng của Allah. Danh từ Hồi giáo (Islam) còn có nghĩa là “sự tuân phục đối với Chúa trời”, “hòa bình” và “con đường đi tới hòa bình”. Người tin tưởng vào Hồi giáo được gọi là Tín đồ Hồi giáo [59]. Người phương tây có cách nhìn nhận hoàn toàn khác và đầy mâu thuẫn về chính trị và văn hóa của đạo Hồi.
Sự kình địch gữa các Hồi giáo và Thiên Chúa giáo ở Châu âu và Địa trung hải thời trung cổ. Sự ganh đua chính trị và kinh tế, các phong trào chính trị chống Ottoman; các phong trào dân tộc chống chủ nghĩa thực dân của các nước Hồi giáo và hiện nay là hàng loạt nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS). Tất cả những điều đó không chỉ khiến cho phương Tây mà cả thế giới cũng như các giáo phải cơ bản khác nhìn nhận Hồi giáo như một lực lượng đơn nhất. Khái niệm và sự phân hóa của đạo Hồi Hồi giáo còn gọi là đạo Islam, là một tôn giáo độc thần thuộc nhóm các tôn giáo Abraham.
Đây là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới, sau Kitô giáo, và là tôn giáo đang phát triển nhanh nhất với số tín đồ hiện nay là 1,57 tỷ, chiếm 23% dân số thế giới. Hầu hết người theo dạo Hồi thuộc hai dòng: Sunni (75-90%) và Shia (10- 20%). Có khoảng 13% người theo đạo Hồi sống tại Indonesia, cộng đồng quốc gia Hồi giáo lớn nhất chiếm 25% ở Nam Á, 20% ở Trung Đông và 15% ở hạ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số cộng đồng khác ở châu Âu, Trung Quốc, Nga và châu Mỹ.
Các cộng đồng di dân và chuyển đạo cũng có ở nhiều nơi trên thế giới. Nguyên nghĩa của “Hồi giáo” trong tiếng Ả Rập là Islam và có nghĩa là “vâng mệnh, quy phục Thượng Đế”. Người theo Islam, trong tiếng Arab gọi là Muslim, do đó có các chữ muslim, moslem tiếng Anh và musulman tiếng Pháp. Danh từ “Hồi giáo” xuất xứ từ dân tộc Hồi Hột.
Hồi Hột là nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc từ năm 616 đến 840. Lúc rộng lớn nhất lãnh thổ họ đông đến Mãn Châu, tây đến Trung Á, và họ đã giúp nhà Đường dẹp được loạn An Lộc Sơn. Với thời gian, cách gọi đổi thành “Hồi Hồi”. Tài liệu xưa nhất dùng danh từ “Hồi Hồi” là Liêu Sử, soạn vào thế kỷ 12.
Đời nhà Nguyên (1260 - 1368), tại Trung Quốc, cụm từ “người Hồi Hồi” được dùng để chỉ định người Trung Á, bất luận theo tín ngưỡng nào. Đến đời Minh (1368 - 1644), cụm từ “người Hồi Hồi” mới dần dần đổi nghĩa để chỉ định tín đồ Islam. Trước đó, người Hán thường gọi Islam là “Đại Thực giáo” hay “đạo A- lạp-bá”. A-lạp-bá” là phiên âm tiếng Hán của danh từ “Ả Rập”.
“ Đại Thực” là phiên âm của chữ “Tazi”, tiếng Ba Tư dùng gọi người “Ả Rập”, vì “Tazi” là tên một bộ tộc người “Ả Rập” tiếp xúc nhiều với Ba Tư thời xưa. Bởi “Hồi Hồi” là tên gọi chủng tộc, không phải là dịch nghĩa của chữ Islam hay một tôn chỉ của Islam, nên một số người hạn chế dùng danh từ “Hồi giáo” hay “đạo Hồi”. Trường hợp các tên “Đại Thực” hay “A-lạp-bá” cũng thế. Bởi thế, tại Trung Quốc, ngay từ năm 1335, thời nhà Nguyên, đã có người đề ra cụm từ Thanh Chân giáo để thích nghi hơn với tiếng Hán.
Đề nghị này được hưởng ứng rộng rãi nên ngày nay Thanh Chân giáo là cụm từ được ghi trong nhiều từ điển tiếng Hán. Tại Trung Quốc ngày nay cũng có nhiều “Thanh Chân tự” (thánh đường Islam) và “Thanh Chân thực đường” (quán ăn, nhà ăn halal). Ngày nay tại Trung Quốc người ta cũng thường gọi Islam theo phiên âm là Y Tư Lan giáo. Cơ quan đại diện Islam chính thức tại Trung Quốc có tên là 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Trung Quốc Y Tư Lan giáo hiệp hội” được ra đời ngày 11 tháng 5 năm 1953, trực thuộc chính quyền và có trụ sở tại Bắc Kinh.
Wikipedia Trung văn cũng dùng danh từ Y Tư Lan giáo. Nhiều tài liệu, văn bản trong tiếng Việt từ nhiều năm nay cũng dùng danh từ đạo Islam hay đạo Ixlam. Tuy nhiên, nhiều tín hữu Islam nói tiếng Việt vẫn dùng danh từ Hồi giáo vì đã quen nghĩ đến, nói đến danh từ này một cách tôn kính. Nguồn gốc hình thành Đối với người ngoài, đạo Hồi giáo ra đời vào thế kỷ 7 tại bán đảo Ả Rập, do Thiên Sứ Muhammad nhận mặc khải của thượng đế truyền lại cho con người qua thiên thần Jibrael.
Đạo Hồi chỉ tôn thờ Allah Đấng Tối Cao, Đấng Duy Nhất. Đối với tín đồ, Muhammad là vị Thiên Sứ cuối cùng được Allah mặc khải Thiên Kinh Qur'an (còn viết là Koran) qua Thiên thần Jblael. Điều đầu tiên chúng ta nên biết và hiểu rõ về Islam là từ “Islam” có nghĩa là gì. Tên Islam không được đặt theo tên người như trong trường hợp Kitô giáo, được đặt tên theo Chúa Giê-su, Phật giáo được đặt tên theo Đức Phật, đạo Khổng được đặt tên theo Đức Khổng Tử, và chủ nghĩa Mác được đặt tên theo Các Mác.
Giáo lý của Đạo Hồi Dù là tôn giáo nào, nội dung căn bản vẫn là sự duy tâm, tin tưởng vào thần linh, hướng con người đến với sự giải thoát, không còn chiến tranh, xung đột, đói nghèo, thiên tai… Kinh Koran là một sợi chỉ xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của đạo Hồi. Theo tiếng Arab: Koran (Cô-ran) là Quran được các đấng tiên tri truyền cho Muhamad. Hồi giáo có những đặc điểm riêng biệt, sự hình thành và phát triển của Hồi giáo phụ thuộc lớn vào các nhà tiên tri, các nhà truyền đạo, càng lớn mạnh nó càng thể hiện sự biến thiên của nó. Những giáo lý cơ bản của Hồi giáo được gắn liền với tên tuổi của Giáo chủ Mohammed (570 – 632) là một người thuộc gia tộc Casimu ở Mecca.
Tục 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com truyền rằng thánh Allah (Ala – Chân chủ) đã cử thiên sứ Gabrien đến truyền đạt Thần dụ và lần đầu tiên “khải thị” cho Mohammed chân lý của kinh Koran khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh” để tiếp thụ sứ mệnh của chân chủ trao cho và bắt đầu công cuộc truyền bá đạo Hồi. Cùng với việc mở rộng phạm vi truyền đạo, Mohammed còn liên minh với các bộ tộc và dùng sức mạnh buộc các thế lực còn lại phải quy thuận theo Hồi giáo. Cuộc cách mạng do Mohammed lãnh đạo là một cuộc cách mạng tôn giáo và cải cách xã hội kết hợp với nhau. Các quan điểm và giáo lý của Hồi giáo như được thể hiện trong kinh Koran cho đến nay vẫn có ảnh hưởng rất mạnh tại các khu vực có cộng đồng Hồi giáo sinh sống và là nền tảng lý luận quan trọng giúp cho thế giới bên ngoài có cách nhìn và đánh giá đúng mực về tôn giáo này.
Kinh Koran là một quyển kinh gồm có 114 chương và 6236 câu thơ (verses). Sự phân bố các câu thơ trong các chương không đều nhau, chương dài nhất có 287 câu thơ, chương ngắn nhất chỉ có 3 câu thơ. Phần lớn kinh Koran được Mohammed viết tại thánh địa Mecca, số còn lại viết tại thánh địa Medina. Mohammed viết kinh Koran trên lá cọ khô và trên những tấm da súc vật phơi khô.
Cuốn kinh sau này lưu giữ được là nhờ cố gắng sao chép và phục hồi của nhiều vị vua khác nhau trị vì trên khu vực bán đảo Arab, trong đó phải kể đến công của vị vua Uthman (644-657). Khác với Kinh thánh Cựu ước (Torah), Kinh Koran ngoài việc đề cập đến những vấn đề thiêng liêng và lịch sử, còn đề cập đến những giáo lý cơ bản dành riêng cho người Hồi giáo. Đây có thể được đánh giá là bộ luật đầu tiên và cao nhất của người Hồi giáo. Ví dụ: Cấm cho vay nặng lãi (Koran, chương 2, câu 275); Cấm cờ bạc (Koran, chương 5 câu 90); Cấm săn bắn trong thời gian hành hương về Mecca (Koran, chương 5 câu 93); Phải ăn chay trong tháng Ramadan (Koran, chương 2 câu182); Phụ nữ ngoại tình bị ném đá cho chết (Koran chương 4 câu 15); Bị đóng đinh hoặc chặt hết chân tay nếu chống Thiên Chúa Alla và thiên sứ Mohammed (Koran, chương 5 câu 3).
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kinh Koran đồng thời cũng liệt kê ra 10 điều răn bao gồm: (1) Chỉ tôn thờ thiên chúa Alla; (2) Vinh danh và kính trọng cha mẹ; (3) Tôn trọng quyền của người khác; (4) Hãy bố thí rộng rãi cho người nghèo; (5) Cấm giết người trừ những trường hợp đặc biệt; (6) Cấm ngọai tình; (7) Hãy bảo vệ và chu cấp trẻ mồ côi; (8) Hãy cư xử công bằng với mọi người; (9) Hãy trong sạch về tình cảm và tinh thần; (10) Hãy khiêm tốn. Ngoài những giáo lý trên, Kinh Koran còn đề ra 5 nghĩa vụ căn bản buộc mọi người Hồi giáo phải thực hiện, đó là: niệm, lễ, trai, khoá, triều. Đây được coi là 5 trụ cột cơ bản của Hồi giáo, cụ thể là: (1) Niệm: Tín đồ phải thường xuyên tụng niệm câu Sahadah “Không có Thiên Chúa nào khác ngoài Allah và sứ giả của người là Mohammed, La ila ha il allah”. (2) Lễ: Mỗi tín đồ hàng ngày phải hành lễ 5 lần về phía thánh địa Mecca (Salah: Turning to Mecca to pray 5 times a day); (3) Trai: tức trai giới.
Trong tháng ăn chay Ramadan, mọi tín đồ không ăn uống, quan hệ tình dục từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn. Nghiên cứu về Hồi giáo qua Kinh Koran cho thấy tôn giáo này có nhiều ưu điểm thể hiện rõ trong các lời răn dạy và trong 5 trụ cột của tôn giáo. Những ưu điểm này đã đưa xã hội Hồi giáo (chủ yếu ở khu vực Trung Đông) bước vào thời đại hoàng kim từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XII.